Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

08:00:37 15/02/2020 | Dân tộc
Tranh Đông Hồ là một trong những dòng tranh dân gian nổi tiếng của Việt Nam từng đi vào bài thơ “Bên kia sông Đuống” của nhà thơ Hoàng Cầm: “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong/ Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”.

Những bức tranh “Lợn đàn”, “Chuột rước đèn”… đã trở nên quen thuộc với bà con và du khách. Tuy nhiên, ít người biết rằng, điều tạo nên sự khác biệt của tranh Đông Hồ với các dòng tranh dân gian khác đó chính giấy điệp.

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Bức tranh “Chuột rước rồng” .

1. Vậy “giấy điệp” là giấy gì? Theo nhà sưu tập Nguyễn Thị Thu Hòa - một trong ba tác giả của cuốn sách “Dòng tranh dân gian Đông Hồ”, giấy điệp chính là giấy dó quét điệp lên. Giấy dó vốn được người Việt sản xuất hàng trăm năm nay ở những nơi như Yên Thái (ven Hồ Tây, Hà Nội) hay Đống Cao (Bắc Ninh). Giấy dó là loại giấy đặc biệt, có độ bền khá lâu, dùng để in sắc phong, kinh sách và tranh dân gian.

Khi đã có giấy dó, thì công đoạn quét điệp được người làng tranh tiến hành. Nhờ có lớp bột điệp lên trên, mà tranh dân gian Đông Hồ có vẻ óng ánh độc đáo, khác biệt so với tất cả các tranh dân gian ở Việt Nam. Cũng vì có quét điệp nên giấy dó để làm tranh Đông Hồ sẽ cứng cáp hơn. “Chỉ dòng tranh Đông Hồ mới có cách làm giấy dó quét điệp. Cũng bởi điều này nên trong nhiều năm, dòng tranh Đông Hồ vẫn được mang danh là tranh điệp”- bà Thu Hòa nhấn mạnh.

Để làm nên vẻ đẹp óng ánh của sắc điệp là cả một quy trình kỹ thuật độc đáo, tốn công sức vốn đã truyền lại từ nhiều thế kỷ: đó là nghề làm bột điệp.

Quy trình sản xuất bột điệp ngày nay giống như nhiều trăm năm trước đây của tiền nhân. Nếu có khác chỉ là ở khâu dùng mô tơ máy để nghiền bột thay cho việc giã điệp bằng sức người.

Trước tiên là khâu nguyên liệu. Người ta phải ra biển mới thu lượm được xác vỏ điệp chuyên để làm giấy, là loại có ánh xà cừ, mỏng như tờ giấy, màu trắng. Loại điệp này sống ở vùng nước nông ven bờ biển. Khi mang vỏ điệp về, người thợ phải nhặt hết các mảnh vỏ ốc lẫn vào, rồi rửa thật sạch, phơi khô. Sau đó, họ cho vào cối giã như cối giã gạo thành bột điệp trong thời gian khoảng 2 tiếng. Ngày nay, công đoạn giã cối này được thay bằng xay môtơ như xay gạo, thành một thứ bột mịn màu trắng đục. Sau đó, hòa bột với nước rồi nắm lại như nắm xôi, đem phơi khô để dùng dần. Khi làm tranh dân gian, người ta đem bột đó hòa với hồ làm từ bột nếp tạo ra một loại hồ nhuyễn, sền sệt rồi dùng chổi thông quét lên mặt giấy dó để tạo ra loại giấy điệp chuyên dụng. Theo các nghệ nhân tranh dân gian Đông Hồ, khi quét điệp phải dùng chổi thông. Quét theo chiều dọc những tranh thể hiện mặt người, quét theo chiều ngang loại tranh thể hiện các con vật. Người ta quét điệp vài lần trên giấy. Lần quét cuối cùng để lấy “thớ”, tức là tạo những đường vân đẹp như thớ gỗ mịn, nổi ganh.

Ngày nay, để có thể chứng kiến quy trình nghệ nhân làng Đông Hồ làm điệp, quét điệp không dễ. Bà Thu Hòa cho biết: “Sau khi về làng Đông Hồ điền dã nhiều lần, tiếp xúc với các cụ cao niên, trò chuyện với các nghệ nhân đang làm nghề và hiểu rõ quy trình làm tranh, nhưng riêng việc chụp ảnh công đoạn làm điệp thì chúng tôi phải đợi tới 4 năm! Bởi không phải tháng nào, tuần nào người làng Đông Hồ cũng làm điệp. Mà người dân chỉ làm khi giấy đã hết”.

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp - 1

Ba thế hệ trong gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế in tranh.

2. Tranh Đông Hồ được truyền tụng nhiều vì nét dí dỏm xen lẫn tính chất nông dã của nó. Xem tranh, bà con cảm thấy gần gũi vì tranh lột tả những hình ảnh chung quanh làng quê Việt Nam mà trong đó những sinh hoạt hàng ngày hiển hiện lên mặt giấy khiến tranh Đông Hồ như một tấm gương trong soi lấy cảnh đời của người sở hữu nó.

Về mảng tranh Tết, tranh Đông Hồ càng đằm thắm hơn nữa khi mục đích được nhắm tới là miêu tả hạnh phúc và sự sung túc trong đời sống hàng ngày của người dân quê. Đó là các bức tranh “Lễ trí”, “Nhân nghĩa”, “Vinh hoa”, “Phú quý”, “Múa lân”… Đặc biệt, bộ tranh về những con giáp của tranh Đông Hồ cũng rất độc đáo, được người dân và du khách yêu thích như “Lợn đàn”, “Đám cưới chuột”, “Gà đàn”… Những chủ đề thường được nhắc đi nhắc lại thường là hình ảnh của những con vật tượng trưng được sự cần cù, chịu thương chịu khó: con trâu, con gà…

Có thể nói, dòng tranh Đông Hồ vẫn mang đậm chất dân gian từ xa xưa truyền lại. Công đoạn làm tranh tuần tự như sau: quệt mực bằng chổi cho thấm vào bìa, rồi “đập mầu”, tức đập bản khắc vào bìa cho thấm vào nét khắc rồi in ra giấy dó như kiểu đóng dấu, gọi là “in úp ván” (ngược với cách “in ngửa ván” của dòng tranh Kim Hoàng và Hàng Trống). Sau đó lật ngược ván khi giấy dó vẫn dính vào ván, lại tiếp tục dùng xơ mướp để xoa mặt lưng giấy cho no màu mới gỡ giấy ra. Mỗi màu trên tranh là một ván in. Thường thường, có khoảng 4 ván in màu và 1 ván in nét màu đen được in sau cùng. Trong các ván in màu, họ chọn màu “mạnh” in trước rồi mới đến màu khác. Thường thì in màu đỏ, rồi mới đến màu xanh, màu trắng. Ván in màu đỏ còn được khắc 2 chấm nổi để làm “cữ” cho các ván in sau.

Hiện nay tại Đông Hồ còn 2 dòng họ làm tranh dân gian. Một số nghệ nhân đã cố gắng duy trì dòng tranh di sản đích thực của cha ông trong những đề tài phục cổ hay đề tài hiện đại, tiêu biểu là nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế. Dòng tranh Đông Hồ vẫn tồn tại mặc dù không còn được như trước đây. Một số họa sĩ người làng đã theo học các trường Đại học Mỹ thuật bài bản hơn, lại tiếp tục phát huy nghề làm tranh dân gian của làng và đã có nhiều sáng tác phục hồi vốn cổ cũng như sáng tạo các chủ đề mới. Đó là các họa sĩ như Nguyễn Đăng Dũng (con trai nghệ nhân Nguyễn Đăng Sần), Nguyễn Đăng Giáp (con trai nghệ nhân Nguyễn Đăng Khiêm)… Ngay tại làng Đông Hồ cũng đã hình thành một Câu lạc bộ Làng nghề truyền thống tranh dân gian có sự ủng hộ của các cấp chính quyền.

Hiện nay, Hồ sơ về nghề tranh dân gian Đông Hồ do Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) thực hiện đang được hoàn thiện để đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Làng Đông Hồ (xã Song Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh) xưa có tên là làng Mái, nổi tiếng với mấy câu ca: “Hỡi cô thắt lưng bao xanh/ Có về làng Mái với anh thì về/ Làng Mái có lịch có lề/ Có sông tắm mát có nghề làm tranh”.
Làng tranh Đông Hồ từng có thời kỳ rất sôi động, tất cả những người trong làng đều tham gia việc làm tranh. Tranh Đông Hồ được tiêu thụ nhiều nhất vào dịp Tết, vì vậy việc làm tranh tập trung nhất vào khoảng tháng 7, tháng 8, cả làng tất bật để chuẩn bị cho mùa tranh Tết.

Thanh Xuân

Tin cùng chuyên mục

Tin mới