Nhiều hay ít giáo sư?

Thứ năm, 08/02/2018 10:15:21 | Góc nhìn Đại đoàn kết
Những ngày này câu chuyện phong chức danh giáo sư, phó giáo sư nhận được nhiều sự quan tâm của dư luận. Với hơn 1.200 GS, PGS được phong danh, có người đã ví như một “chuyến tàu vét”. Cùng với đó là lo lắng về chất lượng của đội ngũ, cũng như gợi lại nỗi băn khoăn “thừa thầy, thiếu thợ”. Cũng chính vì lo ngại chất lượng nên ý kiến đề nghị “trả lại” quyền phong danh hiệu GS, PGS cho các trường đại học lại quay trở về. 

Cho tới nay, có thể nói quy trình xét học hàm GS, PGS được coi là khá chi tiết, chặt chẽ. Bao gồm các bước: 

- Hội đồng chức danh giáo sư cấp cơ sở: Xét duyệt ở cấp trường (bước 1).

- Hội đồng chức danh cấp ngành: Xét duyệt (bước 2).

- Hội đồng chức danh cấp nhà nước: Xét duyệt cuối cùng và công nhận đạt chuẩn.

Tất cả các khâu kể trên đều có thủ tục bỏ phiếu kín.

- Cuối cùng, các trường đại học sẽ bổ nhiệm GS, PGS đã được Nhà nước công nhận.

Tuy nhiên, điều người ta e ngại chính ở quy trình không được tuân thủ nghiêm túc, có khi còn biến dạng do bị “vận dụng” một cách không trong sáng đã tạo ra những trăn trở. Đặc biệt, ở bước 1 và 2. Sự cả nể hay là ý định tạo vây cánh, bè phái, không loại trừ cả sự chạy chọt thời gian qua đã làm hỏng quy trình, biến một quy trình đúng đắn, chặt chẽ, khách quan trở thành bình phong cho những ý đồ cá nhân nào đó. Trước việc quy trình bị lợi dụng, nhiều vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước; cũng như đại biểu Quốc hội cho rằng, quy trình không có lỗi, mà lỗi ở người vận dụng quy trình. Trong trường hợp phong chức danh GS, PGS lần này, cũng chưa thể nói có sự khuất tất, vì điều đó phải có chứng cứ rõ ràng, chính xác; nhưng con số quá lớn người được phong danh đã khiến dư luận băn khoăn.

Chi tiết hơn, nhiều người đã chỉ ra rằng có tới 34% GS, trên 53% PGS được xét duyệt vừa rồi không có bài báo khoa học đăng trên các tạp chí quốc tế nổi tiếng. Tất nhiên việc có công trình đăng trên tạp chí khoa học quốc tế chỉ là một tiêu chí, dù là cần thiết. Theo tinh thần mới thì từ năm 2019 trở đi, để được công nhận chức danh GS thì ứng viên ít nhất 2 bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc hệ thống ISI, Scopus… Có nghĩa là những vị được phong hàm đợt vừa rồi... thoát, nếu như chưa đủ điều kiện này. Tuy nhiên, nói như GS Nguyễn Văn Tuấn- Viện Garvan, Úc thì những quy định về số bài báo khoa học là cần thiết nhưng chưa đủ. Nếu chỉ có 2 bài báo khoa học thì vẫn là quá đơn giản. Ông Tuấn cho biết, một nghiên cứu sinh ở Úc cũng đã có ít nhất 2 bài báo khoa học trước khi bảo vệ luận án tiến sĩ. Và người ta không chỉ tính số lượng mà còn tính cả chất lượng những bài báo, trong đó có việc nó tác động thế nào đến chuyên ngành của người đó. 

Chung lo ngại về chất lượng khoa học của GS, PGS, nói như PGS.TSKH Phạm Đức Chính (Viện Cơ học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) thì trước sau gì chúng ta cũng phải tiếp cận dần cách làm của thế giới. Nhưng cũng không thể “ngay một lúc” để các trường đại học tự chủ trong việc phong GS, PGS, vì theo PGS Chính trong bối cảnh của Việt Nam, nếu đưa việc xét duyệt về các trường ngay thì “sẽ có vấn đề”. Ông Chính cho rằng, cái dở của chính sách hiện nay là lại khuyến khích bổ nhiệm quan chức có học hàm GS, PGS, học vị TS. Nếu giao về các trường, người nọ người kia sẽ dùng cái danh đó để leo lên chức này chức kia trong chính quyền. “Nếu muốn giao tự chủ hoàn toàn cho các trường, trước hết môi trường đại học phải đảm bảo tính khoa học thuần túy, không đưa tiêu chuẩn bằng cấp trong việc bổ nhiệm chốn quan trường”- theo ông Chính. Ông Chính cũng hy vọng Dự thảo công nhận chức danh GS, PGS thay thế cho Quyết định 174 (năm 2008) được thực hiện từ trước tới nay sẽ hoàn chỉnh hơn, mà trong đó người ngồi hội đồng bình xét phải công tâm và có năng lực thẩm định, để tránh việc “vàng thau lẫn lộn”.

Rồi đây việc phong học hàm GS, PGS sẽ được làm đúng theo thông lệ quốc tế, đó là lẽ đương nhiên. Đến lúc đó, hẳn những người xứng đáng nhận học hàm sẽ không cảm thấy tủi thân, có khi còn thấy mình bị xúc phạm khi bị nghi ngờ, bởi “vàng bị lẫn vào thau”. 

Với bất cứ một nền giáo dục nào, một quốc gia nào khi có nhiều GS, PGS, TS cũng đều vinh dự, tự hào. Học vấn, nhất là học vấn cao sẽ giúp đất nước phát triển mạnh và bền vững. Vì thế, ngược lại, nếu như có nhiều người có học hàm, học vị cao nhưng chất lượng khoa học trong đó lại thấp thì sẽ lại cản trở sự phát triển. Học hàm, học vị rất cần cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học, tất nhiên người làm quản lý có bằng cấp cao cũng cần thiết; nhưng nếu dựa vào bằng cấp cao để làm cơ sở “chuyển sang chính quyền” làm quản lý thì lại là vấn đề rất khác. Vấn nạn bằng cấp trong việc bổ nhiệm cán bộ những năm qua đã cho thấy điều đó. Làm khoa học giỏi với quản lý giỏi là hai khái niệm, trong nhiều trường hợp là không chồng khít, bởi mỗi lĩnh vực đều có những đòi hỏi riêng, rất khắt khe nếu muốn làm tốt. Không thể yêu cầu một người có năng lực quản trị phát minh ra 1 mệnh đề khoa học nào đó, thì cũng không nên đưa một nhà khoa học giỏi sang làm quản lý để rồi buộc người đó phải là một vị lãnh đạo xuất sắc.

Vì vậy, câu chuyện nhiều hay ít GS, PGS, TS; cách thức, quy trình, nơi nào được giao nhiệm vụ phong danh... vẫn còn dài. Tuy nhiên, hơn bất cứ lĩnh vực nào, khoa học đòi hỏi sự minh bạch, trung thực rất cao, vì thế cần thiết phải đổi mới trên tinh thần trung thực. Nếu chỉ căn cứ vào tiêu chuẩn này, tiêu chí khác nặng tính hình thức mà không nhìn vào thực chất, thực lực thì sẽ vẫn chỉ trong vòng luẩn quẩn: Có nhiều người học hàm, học vị cao nhưng học vấn của xã hội vẫn không được nâng lên.  

 Miên Thảo

Tin cùng chuyên mục

Tin mới