Làm báo phải hướng tới tìm giải pháp

Thứ Bảy, 17/12/2016 14:05:00 | CÙNG BÀN LUẬN
Trong cuộc đời làm báo dẫu chưa quá dài nhưng cũng không quá ngắn của mình, người mà tôi hay tìm tới để xin “ý kiến tư vấn” nhất là nhà báo Hữu Thọ (8/1/1932 – 13/8/2015). Và cũng chính ông là người mà tôi đã thực hiện nhiều bài phỏng vấn nhất, mà toàn là những bài dài kỷ lục.

Nhà báo Hữu Thọ.

Ông đã từng cho tôi nhiều lời khuyên bổ ích mà thường thì tôi làm theo. Chỉ có lời khuyên cuối cùng của ông là tôi đã rất đau đớn không nghe, khi ông bảo tôi đừng về làm ở Báo Đại Đoàn kết… Ông lo cho tôi… Mặc dù rất kính trọng ông và tin ở sự mẫn cảm tới anh minh của “trưởng lão” nhưng tôi rốt cuộc vẫn dấn thân thử sức mình ở một cương vị mới.

Mọi sự có thể sẽ thay đổi. Chỉ một điều không bao giờ thay đổi là tình cảm và ấn tượng tốt đẹp trong lòng tôi về ông…

1. Và hôm nay, trong mùa đông của Hà Nội 2016, tôi lại nhớ tới lần trò chuyện với nhà báo Hữu Thọ cách đây 6 năm, cũng vào trung tuần tháng 11. Hôm đó, tôi đã tới thăm ông tại nhà riêng (một nếp nhà rất khuất nẻo nằm ở cuối khu tập thể trên một phố rất lao xao khiến tôi cứ bâng khuâng nhớ tới Bạch Vân cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Người khôn người đến chốn lao xao” - ở đời, biết ai khôn dại thế nào!..).

Như thường lệ, ông đón tôi rất chân tình với câu dặn dò quen thuộc, nói chuyện chơi thôi nhé, không cần phải viết báo gì cả… Nhưng tôi là dân chuyên nghiệp, làm sao tôi lại không viết về những gì đã trao đổi với một nhà báo lão luyện và giàu kinh nghiệm sống như ông. Nói chung, tôi vẫn quan niệm rằng, chuyện gì cũng có thể đưa lên báo được, quan trọng là đưa theo cách nào và ở mức độ nào để không mạo phạm những quy tắc chung của cuộc sống cộng đồng…

Cây bút chính luận xuất sắc này của làng báo nước nhà  rất giàu tính chiến đấu nhưng luôn luôn giữ được phong cách điềm tĩnh, mềm mỏng tới lịch thiệp. Và tiếp xúc với ông nhiều lần, tôi đã luôn thấy khâm phục cách nêu ra các vấn đề chính trị xã hội của ông, đủ độ thẳng thắn để cảnh báo nhưng không làm ai cảm thấy bị xúc phạm (nếu ai đó cảm thấy khó chịu vì lời ông nói thì đó cũng chỉ là sự khó chịu mơ hồ mang tính nguyên tắc thôi, không thể có nguyên do trực tiếp).

Đã có lần tôi đánh bạo hỏi ông, phải chăng chính tác phong đó đã là bí quyết để ông vừa thành công về mặt nghề nghiệp và vừa thành công về danh vọng (chúng ta hãy cùng hiểu từ “danh vọng” theo nghĩa tích cực mà tất cả chúng ta, kể cả cụ Nguyễn Công Trứ ngày xưa cũng đều muốn có vì “đã mang tiếng ở trong trời đất”). Và ông đã trả lời tôi như sau:

- Tôi thì chả có cái bí quyết gì, có điều là mình sống thật với mình. Tôi là nhà báo thì thích sự trao đổi, đặc biệt tôi nghĩ một trong những năng khiếu của nghề làm báo là thích sự trao đổi, và nếu không có người trao đổi thì tự triển khai lấy những ý kiến phản biện để tự mình trao đổi với mình. Tôi thường đi với các đồng chí lãnh đạo như một người giúp việc, mà cũng như một người tâm tình. Tôi có một kỷ niệm rất sâu sắc thế này, lúc anh Nguyễn Chí Thanh mới sang làm nông nghiệp, các nhà báo giúp việc có tôi và anh Phan Quang. Anh Thanh nói:  “Tôi cho các ông cãi, tôi cũng thích cãi, trên dưới cùng cãi. Tôi cũng mới sang làm nông nghiệp nên chưa hiểu gì cả”. Anh ấy còn bảo: “Có thể đúng, có thể sai, nhưng cậu mà đúng một nửa thôi thì phải nhớ rằng một mình cậu đã chiếm 50% chân lý rồi. Cao Bá Quát ngày xưa ngạo nghễ thế cũng chỉ dám nói mình đọc được 1/3 bồ sách thiên hạ thôi”. Tôi bạo mồm thốt lên: “Anh ơi, chúng tôi có nói đúng 80% thì họ cũng quên cái 80% ấy đi, họ chỉ nhè 20% sai kia mà họ diệt”. “Thế cậu vì việc hay vì cái ghế của cậu?”. Mà ông Thanh là một con người có tính nết rất lạ, về chính trị thì không bao giờ ông ấy mắng những ý kiến phản biện cả, nhưng khi tôi cãi ông hai ba cái việc lặt vặt thì ông mắng tôi rất ghê gớm. Ví dụ, hôm trận đội Thể Công đá với đội Hoàng Diệu, tôi nói: “Đội Thể Công đá cứ hùng hục, đội Hoàng Diệu chơi đẹp ghê lắm”. Ông ấy bảo ngay: “Dốt! Đá quan trọng là phải thắng thua, có phải văn công đâu mà cần đi cho nó đẹp”. Cũng hôm ấy, báo Văn Nghệ có in một bài Nguyễn Tuân viết về chè, tôi đọc xong bảo: “Đây, Nguyễn Tuân viết về chè Huế quê anh, chè nào cũng thơm ngon, nhưng riêng có một thứ tôi thấy không ngon, chè thịt quay ấy. Tôi không nghĩ có một thứ chè lại có thể kết hợp được cái tinh khiết của đậu đãi với cái nhồm nhoàm của thịt quay... Thế là ông ấy mắng: “Cậu thì biết cái gì mà cãi?!”. Tôi im nhưng vẫn ấm ức. Khi giải phóng miền Nam, tôi ra chợ Đông Ba, việc đầu tiên là gọi một bát chè thịt quay. Ăn xong thì mới thấy ông Thanh nói đúng, hai cái thứ này khi trộn lẫn với nhau lại ra một thứ chất khác, nó tồn tại như một đóng góp ẩm thực của dân Huế…

Do hoàn cảnh công việc của mình, Hữu Thọ là một nhà báo sớm được gần các đồng chí lãnh đạo cao cấp và ông cũng sớm đào luyện được một tác phong chuyên nghiệp trong ứng xử ở những tình huống không đơn giản khi những người đối thoại với ta thường là những người cao hơn ta ở vị trí xã hội, sao cho vẫn giữ được phép tắc công đường mà vẫn giữ được chính kiến cá nhân. Ông tự hào về danh hiệu nhà báo của mình nhưng không bao giờ bị huyễn tưởng bởi những ưu thế mà nghề nghiệp đem lại. Ông không quá e dè với thượng cấp nhưng cũng không “gần chùa gọi bụt bằng anh”. Cũng trong một lần trao đổi với tôi, ông tâm sự:

- Đúng là báo chí có quyền lực, nhưng cái quyền lực đó là Đảng giao cho mình, Nhà nước giao cho mình, nhân dân giao cho mình. Nếu mình tách ra khỏi ba cái kia thì mình là cái gì?. Tôi cũng không bao giờ nghĩ nghề báo là nghề mõ. Những năm đầu đổi mới, có ba phóng sự rất nổi tiếng và đối với tôi đã để lại ấn tượng rất sâu sắc. Một là “Cái đêm hôm ấy đêm gì” của Phùng Gia Lộc, hai là “Người đàn bà quỳ” của Lê Văn Ba, ba là “Lời khai của bị can” của Trần Huy Quang. Ba bài đó của ba tác giả khác nhau nhưng tự nhiên nó lại đặt ra một vấn đề xã hội, và thực sự có tính dự báo rất ghê về vấn đề dân chủ ở nông thôn, về vấn đề oan ức, về vấn đề kỳ thị người làm giàu trong xã hội...

Rồi tôi xin nói về sức mạnh của các nhà báo trong khoán 100, nếu không có họ thì chưa chắc đã có chỉ thị năm 1981 ra đời. Không có sự hoạt động tích cực của các nhà báo thì không thể có tiến triển vụ Năm Cam như chúng ta đã thấy. Thế nên phải nói sức mạnh của báo chí rất kinh khủng. “Giúp cho việc xử lý của Đảng được nhanh chóng” như theo một đánh giá trong nghị quyết của Đảng thì làm sao lại là mõ được. Bác Hồ đã nói: “Báo chí là chiến sĩ xung kích trên mặt trận tư tưởng”, thì cũng phải nên hiểu khi nó là xung kích trên mặt trận tư tưởng cách mạng thì nó cũng có khả năng là xung kích trên mặt trận tư tưởng phản cách mạng. Phải nên nhớ vai trò đi đầu của nó  là cực kỳ quan trọng. Báo chí Nga cho đến bây giờ người ta tổng kết, Liên Xô sụp đổ nhanh có lỗi một phần do báo chí…

(Minh họa: I.T).

2. Trong buổi sáng trung tuần tháng 11/2010 đáng nhớ đó, tôi đã hỏi nhà báo Hữu Thọ rất nhiều sự trên đời. Giờ đọc lại, vẫn thấy mọi điều còn mới mẻ và vẫn thấy văng vẳng bên tai giọng nói đầy thao thiết của ông. 

Hồng Thanh Quang: Ông chính thức về hưu cũng đã lâu rồi, tuổi cũng cao rồi. Liệu ông còn đủ sức theo dõi tình hình thời sự như trước nữa không ạ?

Nhà báo Hữu Thọ: Đã là nhà báo thì phải gắn với thời sự chứ làm sao khác được…

Ông Putin ở bên Nga có lần đã nói, đã là cán bộ an ninh thì sẽ là cán bộ an ninh đến hết đời. Có lẽ là nhà báo cũng thế, một nhà báo đích thực thì dù về hưu cũng vẫn là nhà báo... 

- Đúng thế. Mà nhà báo là phải gắn với thời sự. Đã làm báo, vấn đề lớn nhất là vấn đề thời sự. Có điều, người ta viết thời sự theo nhiều kiểu khác nhau chứ không nhất thiết… Có người viết trực tiếp, có những người thì người ta không viết trực tiếp lắm… Nếu không gắn với thời sự thì làm sao gọi là nhà báo được? Thế cho nên thời sự cũng là vấn đề tôi trăn trở. Nhưng mà gắn với thời sự hiện nay thì thời sự nó đã có lúc uyển chuyển, nghĩa là một nhà báo Việt Nam đều là công dân của Việt Nam, hoạt động theo luật pháp đã đành rồi, nhưng mỗi con người còn có có tâm luật, tức là luật trong lòng của mình. 

Ở Việt Nam “trăm cái lý không bằng một tí cái tình”, nên  cái lòng người nó càng quan trọng phải không ạ?

- Trong chuyện này rất cần nhớ lại những lời Cụ Hồ đã nói. Bác Hồ đã nói rằng, cần phải có lý có tình, cái tình quan trọng lắm, còn sống lạnh lùng thì có giỏi cũng chẳng để làm gì. Tôi không có điều kiện để tìm lại nguyên văn nhưng tôi nhớ có lần Bác Hồ đã nói là, sống bên nhau mà không có tình nghĩa thì nghĩa là cũng không hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là gì… 

Bác đã đặt đến cái tầm: sống với nhau có tình nghĩa lại là một nội dung của những người Việt Nam theo chủ nghĩa Mác-Lênin. Mà tôi xin nói với Hồng Thanh Quang thế này: thời điểm Bác nói là lúc nào? Chúng ta hôm nay nên nhớ tới hoàn cảnh cụ thể khi Bác Hồ đưa ra những câu nói khác nhau.

Rất đúng. Ngữ cảnh cực kỳ quan trọng. Không hiểu ngữ cảnh đôi khi dễ hiểu sai ý nghĩa thực các câu nói của lãnh tụ.

-  Thời kỳ đấy là thời kỳ chỉnh đốn tổ chức, căng thẳng lắm... Lúc bấy giờ Bác nói câu đấy, để mà thấy, à, hóa ra là trong đội ngũ chúng ta, ở đâu đó, trong một lúc nào đó cũng vẫn còn những chuyện sống với nhau thiếu tình nghĩa… Tôi nhớ, khi tôi tham gia vào việc chuẩn bị dự thảo của Bộ Chính trị trình Ban chấp hành TW  thông qua  Nghị quyết Trung ương 6 lần 2, chúng tôi đã có một câu mà về sau được Bộ Chính trị chấp nhận để trình TW. Câu đó thế này: có những người dùng cả những âm mưu  hèn hạ để hãm hại nhau…

Nói thế thì nặng đấy! 

- Nặng! Nhưng tại làm sao chúng tôi dám viết câu ấy và tại làm sao các đồng chí chuẩn bị dự thảo cho Bộ Chính trị lại chấp nhận cái câu ấy. Vì trong thực tế lúc đó có chuyện như vậy… Và sự thật làm cho chúng tôi xúc động mà viết một câu phải nói là mang tính văn học nhiều hơn là chính luận. Người Cộng sản Việt Nam thì phải có tình có nghĩa. Và có tình có nghĩa đã được Bác Hồ coi như một nội dung của sự giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam, của người cộng sản Việt Nam.

Người Việt bao giờ cũng vẫn lưu ý cái tình với nhau, có thể không thành công nhưng phải thành nhân…

- Nhưng vấn đề là, cái tư duy ấy tới một lúc nào đó, ở trong một cái bối cảnh nào đó lại  cản trở tư duy lý tính, lại trở thành lực cản. Nói cho cùng, tư duy lý tính về cơ bản nó mới tiếp cận  được chân lý. Nhưng nếu chỉ lý tính thông thường thì không hoàn toàn hợp với tâm lý người Việt Nam ta. 

Trăm cái lý không bằng một tí cái tình…

- Trăm cái lý không bằng một tí cái tình! Mọi chuyện nó đều phức tạp. Cho nên các truyền thống văn hóa Việt Nam khi bước vào xã hội hiện đại thì nó có mặt được và có mặt cản trở. Nguyên tắc dĩ hòa vi quý vừa là mặt tốt của một xã hội ổn định nhưng nó sẽ hạn chế tính chiến đấu trong nội bộ chúng ta. 

Theo tôi, không nên chỉ áp dụng một nguyên tắc, cần hài hòa bổ sung các nguyên tắc với nhau để vừa giữ được tính chiến đấu trong nội bộ vừa giữ được ổn định chung…

- Thế thì bây giờ, cần phải làm sao để nâng cao nguyên tắc  tự phê bình và phê bình trên tinh thần xây dựng, chứ không phải giậu đổ bìm leo…

Tôi hiểu, bây giờ suy cho cùng vẫn phải trở về những nguyên tắc căn bản của Đảng ta, đó là sự kết hợp của tất cả tinh thần duy lý của văn minh phương Tây cộng với cả sự duy tình của người Việt Nam… Hôm nay, nhìn lại, chúng ta cần hiểu tại sao phong cách lãnh đạo của Bác Hồ luôn là tấm gương cho chúng ta?Bởi vì Bác đã có được sự kết hợp ấy, tạo ra sự ổn định nhất và đỡ phải trả giá nhất, có đúng không ạ?

- Cái đấy là khoa học!

Vâng, cái đấy chính là khoa học!

- Ta nói như thế này, một cái triết học khi vào một quốc gia thì bao giờ cũng qua bộ lọc của nền văn hóa quốc gia ấy, nên nó vào nó không còn  ở dạng nguyên bản nữa.

Đúng rồi, nó được biến hóa đi để phù hợp với “địa lợi” mới…

- Nó qua bộ lọc của văn hóa quốc gia Việt Nam, của nền văn hiến quốc gia Việt Nam, rồi nó trở thành một  thứ triết lý ở nước Việt Nam.

Mang đặc thù cụ thể của nước ta. Như một giống cây khi chuyển sang vùng thổ nhưỡng khác thì phải thích ứng, phải thay đổi để thích ứng...

- Nhân nghĩa của Khổng Tử vào Việt Nam thì được chuyển hóa thành nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, mà nhân nghĩa của Nguyễn Trãi mới là nhân nghĩa của Việt Nam...  

Lời người viết bài:  

Cuối buổi trò chuyện tôi đã đặt vấn đề mà tôi coi là thời sự hiện nay với nhà báo Hữu Thọ: “Ông là nhà báo, tôi cũng là nhà báo. Về mặt bản năng nghề nghiệp, đối với chúng ta sự tự do ngôn luận bao giờ cũng cao hơn tất cả. Cái đó chúng ta đều giác ngộ được rồi. Nhưng khi chúng ta được quyền tự do phát biểu quan điểm của mình thì, thứ nhất, chúng ta cũng cần phải biết nghĩa vụ chúng ta  là trình bày quan điểm làm sao để không gây ảnh hưởng tiêu cực đến những người khác, như cách nói, nhận xét về người khác, bất kể đó là ai chứ không chỉ là những nhân vật của công chúng,  không chỉ là những nhân vật có vị trí xã hội, có trọng trách xã hội. 

Thứ hai là, đánh giá những công việc lớn của xã hội thì không thể chỉ bằng cảm tính. Ví như một số người lý luận rằng tôi viết, tôi nói trong trang cá nhân của tôi, tôi muốn làm gì tôi làm. Chúng ta biết rằng, ngay cả ở phương Tây, chỗ dường như là mọi thứ đều được nới rộng hơn thông thường, thì người khỏa thân trong nhà mà mở cửa sổ cũng có thể bị phạt, phạt một cách nặng nề vì lý do làm hại đến thuần phong mỹ thục. Vậy nên, trong lúc chúng ta rất cổ xúy cho sự phát ngôn chính kiến thì tại sao chúng ta không cùng một lúc chú trọng cho việc xây dựng văn hóa phát ngôn chung cho phù hợp với luân thường đạo lý, hợp với không khí đương thời?”. Nhà báo Hữu Thọ tâm sự:

- Người dân sống ở Hà Nội trước Cách mạng Tháng Tám đều nhớ rằng, ở trong nhà anh muốn treo gì thì treo, nhưng cái mặt tiền ngôi nhà là của xã hội, anh treo cái quần đùi ở mặt tiền là đội sếp đến phạt ngay.

Hiện nay có một số người khi phát biểu ý kiến thì cứ nghĩ là vẫn thói quen coi mình là chân lý, coi chân lý trong túi mình, không chịu được sự phản biện khác…

- Anh muốn phản biện người ta nhưng mà anh không muốn cho người ta phản biện, đấy là một bi kịch mà không phải ai cũng có thể tránh được.

Tôi không giáo điều nhưng tôi luôn nghĩ rằng, mọi công việc đều có sự biện chứng của nó, đều có hai mặt của nó. Nhưng một số người hiện nay cảm hứng chỉ chủ yếu là phê phán, anh không nhìn nhận vấn đề ấy, sự việc ấy trong một bối cảnh chung, mà lúc nào cũng chỉ nhìn thấy cốc Coca-Cola chỉ đầy một nửa mà không hiểu rằng, trong bối cảnh hiện nay, nó mới bị vơi đi một nửa thế là tốt rồi. Ông nghĩ thế nào về việc này?

- Tôi thì nghĩ như thế này. Khi anh thắng đậm mà anh nhìn được ra khuyết điểm thì đó là điều rất mừng, để cho nó khỏi chủ quan. Nhưng mặt thứ hai là, anh phê phán thì cái ấy rất cần, nhưng nếu anh lại cường điệu những khuyết điểm, thậm chí những khó khăn để bầu trời ấy đang xanh mà mọi người nhìn nó như u ám thì cũng không được…

 

Lời người viết bài: 

Tôi đã từng đặt ra vấn đề trao đổi cùng nhà báo Hữu Thọ: “Hiện nay, một số người đang nói rất rầm rộ lên rằng, vai trò của trí thức là phải phản biện, phải tư duy độc lập, tức là phải "kênh kênh" một chút với chính quyền đương nhiệm. Nhìn từ góc độ ấy, một số người cho rằng các cụ ta ngày xưa không phải trí thức. Theo những người này, kể cả các bậc sĩ phu ngày xưa cũng chưa phải trí thức vì luôn luôn nhất nhất nghe lời vua, đều hành xử theo cách trung quân rồi ái quốc (?!). Chúng ta phải có cái nhìn biện chứng thế nào để thấy là trí thức không phải lúc nào cũng phải nói ngang, tức là khi người ta nói A thì mình phải nói B, khi vua nói A thì anh phải nói B thì mới là trí thức?”. Và nhà báo Hữu Thọ  đã lý giải:

- Theo Nghị quyết 7 của Trung ương (khóa X) về vấn đề trí thức, chúng ta định nghĩa trí thức là người có học vấn cao, chuyên môn cao trong từng lĩnh vực, tức là ta đã không gắn khái niệm trí thức với bằng cấp. Ngày xưa Đào Duy Từ cả cuộc đời có đỗ gì đâu mà cả nước gọi bằng thầy. Bác Hồ cũng vậy, nhưng là Danh nhân Văn hóa thế giới...

Trí thức là người có học vấn cao, trong đó có những người có bằng cấp và có những người không có bằng cấp nhưng người ta tự học mà trở thành những trí tuệ lỗi lạc. Nhưng có điều kiện thứ hai rất quan trọng trong khái niệm trí thức là phải có tư duy độc lập, sáng tạo. Và cái thứ ba là phải có khả năng truyền bá. Sinh thời, ông Nguyễn Khắc Viện có lần đã tâm sự với tôi rằng, đối với một tờ báo thì số lượng phát hành rất quan trọng nhưng cái quan trọng nhất là phải nắm được đội ngũ độc giả đỉnh cao vì chính những độc giả tinh hoa sẽ làm việc truyền bá những gì đã được viết trên tờ báo...

Tờ báo sang trọng không nhất thiết có tiara lớn, nhưng nó nhằm vào độc giả tinh hoa và độc giả tinh hoa ấy có khả năng truyền bá. Còn phản biện chỉ là một khả năng của trí thức. Nói chữ phản biện thì nên hiểu như thế này, về mặt khoa học, phản biện khác với phản bác. Một số anh em bây giờ hay nhầm phản biện với phản bác. Phản biện là nêu lên cái này được, cái này còn thiếu, cái này không được; phản biện khoa học là như thế, trong phản biện có phần phản bác nhưng không phải tất cả là phản bác. Trên thế giới người ta đều nói rằng, báo chí làm nhiệm vụ phanh phui là biểu hiện sự dũng cảm, nhưng khi báo chí đưa ra được các giải pháp cho các khúc mắc còn tồn tại thì mới là báo chí xây dựng, đóng góp…

Mới là báo chí anh minh…

- Tức là phanh phui cũng tốt, nhưng anh phanh phui thì mới biểu hiện thái độ dũng cảm thôi, chưa đóng góp gì lắm đâu. Báo chí giải pháp là đàn anh của báo chí phanh phui.

Một số người có thiên hướng phanh phui và để đấy, chỉ làm rối mọi sự thôi chứ không nghĩ ra tìm lối thoát hay cách tháo gỡ.

- Cái này thì trên thế giới người ta cũng đã kết luận rồi, chứ không phải ở nước ta đâu. Báo chí giải pháp mới là báo chí đàn anh, mà người làm báo có đưa được ra giải pháp thì mới là người làm báo đỉnh cao. Người làm báo phanh phui giỏi lắm cũng bằng anh công an, anh điều tra viên, thám tử tư thôi, chứ chưa phải là anh xây dựng…

- Tính xây dựng của người trí thức là rất quan trọng, có phải không, thưa ông?

- Đó là trách nhiệm công dân. Nếu anh xây dựng cho Tổ quốc mình thì đừng gây nên sự mất ổn định, gây ra sự phân tâm. 

 

Hồng Thanh Quang (thực hiện)

 

Tin cùng chuyên mục

Tin mới