Nhà phê bình văn học Nguyễn Hòa: Đừng nghĩ mình có quyền ban phát!

Thứ Hai, 02/01/2017 10:05:00 | CÙNG BÀN LUẬN
Tôi luôn nghĩ trong quan hệ với người sáng tác, nhà phê bình chỉ đưa ra các tham vấn, không thể định hướng, càng không thể chỉ bảo nhà văn phải viết thế này, phải viết thế kia. Vì mỗi nhà văn là một chủ thể sáng tạo độc lập với thế giới tinh thần rất riêng, tác phẩm ra sao, bạn đọc tìm đến hay thờ ơ, văn nghiệp như thế nào phụ thuộc vào chính họ- Nhà phê bình văn học Nguyễn Hòa.

Nhà phê bình văn học Nguyễn Hòa.

Hồng Thanh Quang: Khép lại năm 2016, với tư cách một người làm phê bình văn học, anh nhìn nhận thế nào về “vụ mùa văn học” của năm nay? Những sự kiện văn học nào, những tác phẩm văn học nào có thể cần nhắc tới?

Nguyễn Hòa: Mấy năm trước, đề cập văn học Việt Nam, tôi có nói về tình trạng “đi ngang” nghĩa là nếu diễn tả bằng một đồ thị hàm số, thì “mũi tên văn học” nằm ngang với trục hoành, không đi lên, không đi xuống. Đến năm nay tôi vẫn giữ ý kiến này. Vì theo tôi, văn học năm 2016 vẫn bình bình, thiếu vắng sự nổi trội có ý nghĩa như sự vượt lên, chưa buộc người quan tâm phải tìm đọc.   

Nhìn vào thực tế, trong năm 2016 đã có không ít những sự kiện ra mắt tác phẩm văn học đầy sôi động. Một trong những nhà văn đã làm được việc này là Nguyễn Nhật Ánh. Anh đánh giá thế nào về sức hấp dẫn lớn và khá lâu bền của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh?

- Sau nhiều năm, Nguyễn Nhật Ánh đã có bạn đọc của mình, trong đó đa số là bạn đọc đang ở tuổi học trò. Anh hiểu họ, nắm bắt được nhu cầu của họ và anh đã trở thành một “bậc thầy” khi biết cần sáng tác như thế nào để đáp ứng nhu cầu ấy. Điều hấp dẫn trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh là ở một số giá trị nhân văn, là sự hướng thiện, sự phong phú của chi tiết, sự tươi trẻ của giọng điệu,… như trong “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” chẳng hạn. Tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh khiến tôi liên tưởng tới các câu hỏi: Viết cho ai? Viết cái gì? Viết như thế nào?... Tuy nhiên, do nhu cầu không “nhất thành bất biến” mà lại biến động, biến đổi theo thời gian nên có lẽ cũng cần quan tâm tới tình huống: khi nhu cầu của bạn đọc biến động, biến đổi thì liệu tác phẩm có còn hấp dẫn hay không?         

Tháng 10 vừa rồi Nhà xuất bản Hội Nhà văn cho ra mắt tác phẩm “Chuyện ngõ nghèo” của nhà văn lớn tuổi Nguyễn Xuân Khánh. Tiểu thuyết này được nhà văn viết từ ba mươi năm trước, cái tên gốc là “Trư cuồng”. Anh đã đọc tiểu thuyết này chưa ạ? Cảm giác của anh về nó thế nào?

- Ngày trước, nghe tên tác phẩm là “Trư cuồng”, tôi thắc mắc sao có cái tên đó. Sau đọc Trư cuồng đăng trên một website của người Việt ở nước ngoài thì tôi hiểu. Khi “Trư cuồng” xuất bản dưới tên “Chuyện ngõ nghèo” tôi không đọc nữa, vì trước đó tác phẩm không để lại trong tôi dấu ấn sâu đậm. “Chuyện ngõ nghèo” cũng không gây nên “cơn sốt” trong bạn đọc, và thú thực là tôi nghĩ, nếu Nguyễn Xuân Khánh bằng lòng với “Trư cuồng” thì chưa chắc anh đã có “Hồ Quý Ly”? Vì “Hồ Quý Ly” được viết từ một “đẳng cấp bút” cao hơn nhiều.  

Đôi khi tác phẩm được viết, như cách anh nói, bằng “đẳng cấp bút” cao hơn lại không được đưa ra xã hội xứng đáng với nó. Tất cả phụ thuộc vào thời cuộc. Cũng như tác phẩm văn học được viết ra không hẳn đã phụ thuộc vào niên đại. Anh nghĩ thế nào về nhận định, nghệ thuật phát triển không theo cách chia thời gian của con người mà theo vận khí của đất trời?

- Về sự phát triển của nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng, tôi quan tâm tới sự cộng hưởng (hay hội tụ) các yếu tố chủ quan và khách quan trong nhà văn hơn là nhìn nhận như là kết quả của vận khí đất trời. Không lăn vào cuộc đời, không lao động nghệ thuật nghiêm túc, không dốc mình với ngòi bút,… thì chẳng vận khí đất trời nào có thể giúp phát triển văn học! Chưa nói tới những căn bệnh đại loại: viết được vài tác phẩm là khệnh khạng như nhà văn lớn; vừa viết vừa lo thiên hạ có biết mình không; vừa viết vừa tính toán được bao nhiêu nhuận bút; chút ít vốn liếng đã tích lũy được ném hết vào tác phẩm đầu tay, sau đó tích lũy vốn sống qua đọc báo, lướt web; bằng lòng với tri thức có được trên giảng đường đại học, cố lắm thì đọc vài cuốn sách như sắm đồ trang sức,… thì văn học sẽ chỉ lụi bại hơn mà thôi.

Thực tế cho thấy, hiện tại, không ít các tác phẩm cũ, cả sáng tác lẫn biên khảo và phê bình văn học, được tái bản và được độc giả đón nhận với những góc nhìn khác trước. Anh suy nghĩ thế nào về hiện tượng này?

- Những năm gần đây, tác phẩm được xem là có tiếng vang cũng có năm bảy đường. Cuốn vì có giá trị đích thực. Cuốn vì khen - chê sôi nổi. Cuốn vì “cái án không được xuất bản”. Cuốn vì viết về đề tài thời sự đang thu hút sự chú ý của bạn đọc. Cuốn như viết từ nỗi ngậm ngùi, sự bức xúc và được một bộ phận bạn đọc tán thưởng vì đã giúp họ “xả soupap”… Thời gian qua đi, có tác phẩm giữ được tiếng vang, có tác phẩm thì tiếng vang lại nhỏ dần và có khi là tắt hẳn, chỉ còn được nhắc tới trong văn học sử hoặc ai đó muốn tổng kết một giai đoạn văn học. Với một số tác phẩm được tái bản, đôi khi nổi tiếng vì “cái án không được xuất bản” hơn là giá trị nội dung, nghệ thuật. Hiện tượng độc giả đón nhận tác phẩm tái bản với các góc nhìn khác trước cũng bình thường. Có thể do đã có độ lùi về thời gian, có thể do hệ quy chiếu để đánh giá đã mở rộng, có thể do tâm thế người đọc khác trước, có thể do đơn vị tái bản làm rùm beng để bán sách! Tuy nhiên, việc tiếp cận tác phẩm tái bản đa dạng như thế nào cũng nên quan tâm tới tính lịch sử - cụ thể, tới bối cảnh ra đời của tác phẩm. Thiếu sự quan tâm này, rất dễ đẩy tới ý kiến áp đặt chủ quan.   

Anh nghĩ thế nào về nhận định, không có một sự phê bình văn học nào có thể hạ thấp hay đẩy cao giá trị thực của một tác phẩm văn chương? Anh có thể nêu ra những thí dụ mà anh biết trong thực tế hoạt động chuyên môn của mình?

- Dù tài năng đến đâu nhà phê bình cũng chỉ có thể tiếp cận, thẩm định, đánh giá tác phẩm trên một (vài) phương diện nhất định, khó có thể là tiếng nói duy nhất, cuối cùng. Khen - chê xác đáng, được sự chia sẻ, đồng thuận của đồng nghiệp, bạn đọc thì tác phẩm phê bình sẽ có ý nghĩa nào đó, còn khen như bốc thơm, chê như vùi dập thì chẳng đẩy cao hay hạ thấp được tác phẩm. Thí dụ thì nhiều lắm, nhưng tôi xin phép không dẫn ra, vì dễ làm phê bình đỏ mặt, dễ làm nhà văn buồn. 

Thực sự là không ai có thể cầm tay được người sáng tạo ngoài lý trí và trái tim của người ấy?

- Đúng vậy! Tôi luôn nghĩ trong quan hệ với người sáng tác, nhà phê bình chỉ đưa ra các tham vấn, không thể định hướng, càng không thể chỉ bảo nhà văn phải viết thế này, phải viết thế kia. Vì mỗi nhà văn là một chủ thể sáng tạo độc lập với thế giới tinh thần rất riêng, tác phẩm ra sao, bạn đọc tìm đến hay thờ ơ, văn nghiệp như thế nào phụ thuộc vào chính họ. 

Lâu lắm chúng ta không được chứng kiến các cuộc tranh luận văn chương. Theo anh, thế là hay, hay dở?

- Xét từ quá trình nhận thức, tranh luận là hình thức thảo luận, trao đổi tri thức và lao động trí tuệ rất hữu ích có thể giúp người tham gia tranh luận đi từ sự khác nhau tới chỗ thống nhất một quan điểm, luận điểm, vấn đề,… nào đó. Trường hợp tranh luận bất phân thắng bại cũng có nghĩa là quan điểm, luận điểm, vấn đề,… còn để ngỏ, có thể tiếp tục tranh luận, thậm chí để thế hệ sau tranh luận tiếp! Tuy nhiên dù khác nhau đến đâu, người tham gia tranh luận vẫn cần có tinh thần cầu thị, tôn trọng người tranh luận với mình. Tôi rất thích tranh luận, đã tham gia một số cuộc tranh luận, thậm chí ý kiến tôi đưa ra từng là “đề tài” tranh luận, và cũng vì thế tôi được nếm trải một số hỉ nộ ái ố của tranh luận văn chương ở nước Nam. Vài ba vị tranh luận không xong thì chơi trò “mách bố”, tức là làm đơn gửi lãnh đạo nơi tôi làm việc để mách rằng tôi là cử nhân mà dám tranh luận với tiến sĩ, tôi cả gan phê bình họ là để được nổi tiếng, thậm chí có người có đề nghị không cho tôi làm việc ở nơi này nơi kia,…!

“Hồ sơ” của tôi vẫn lưu một số đơn từ kiểu này, và dần dà tôi chán, không muốn tham gia tranh luận nữa, dù đôi khi biết là nếu tham gia, mình sẽ có ý kiến khả thể, mà tôi vẫn đứng ngoài. Có thái độ như vậy còn vì lâu rồi tôi chưa thấy tờ báo, diễn đàn nào tổ chức tranh luận văn chương khi kết thúc lại có kết luận với chính kiến riêng mà thường bỏ lửng, để người có ý kiến cuối cùng thấy mình… “thắng trận”! Rồi tình trạng người tham gia tranh luận tự tin như “thủ đắc chân lý trong túi” là khá phổ biến, ai cũng thấy mình đúng, coi người có quan niệm khác mình là sai, không chịu lắng nghe nhau.

Hơn nữa là tình trạng “bỏ bóng đá người”, xoáy vào tiểu tiết không cần thiết làm chệch hướng chủ đề tranh luận, tới mức mở đầu tranh luận là A mà kết thúc lại là B; thậm chí tranh luận học thuật mà chẳng thấy học thuật đâu, chỉ thấy đưa cá nhân ra bới móc, xỉa xói! Một số vị không tham gia nhưng nhanh chóng chộp lấy cuộc tranh luận đưa lên Facebook, không biết có phải câu “view” hay không, song nhiều khi người tham gia tranh luận lại trở thành mục tiêu “ném đá”, người ta để “bạn phây” tha hồ comment chửi bới, xúc phạm mà không chịu bất cứ trách nhiệm nào; khôi hài là đôi khi người gửi comment lại quay sang tranh luận, cãi nhau như mổ bò…

Trong bối cảnh như vậy, dù nhiệt tâm đến đâu thì không tranh luận vẫn hơn, chẳng dại gì lại chường mặt ra cho thiên hạ xúc phạm. Nếu tranh luận văn chương được tổ chức nghiêm túc, khách quan, và có trách nhiệm, bài bản,… thì quá tốt và thiếu tranh luận cũng không phải là điều hay; bởi tranh luận với tinh thần cầu thị là một cách thức rất hữu ích giúp văn học phát triển. Còn tranh luận như lâu nay vẫn diễn ra thì tốt nhất là không có vẫn hơn!              

Anh có đồng tình với nhận định rằng, trong thực tế, phê bình văn học trên các phương tiện truyền thông hiện nay chỉ đơn thuần làm “dịch vụ PR”?

- Thực sự thì đó đây vẫn có một số bài phê bình là kết quả từ sự khảo sát nghề nghiệp nghiêm túc, đáng đọc, song trên hệ thống truyền thông, những bài phê bình như thế như bị chìm lấp giữa sự tràn ngập của các bài phê bình mang dáng dấp PR. Mối liên hệ, sự tương tác giữa phê bình văn học và truyền thông là cần thiết, hữu lý cho cả báo chí và phê bình. Nhưng nếu lạm dụng, biến mối liên hệ, sự tương tác đó thành nơi PR cho tác phẩm bất chấp hay - dở như thế nào thì rốt cuộc, tài năng và lương tri của nhà phê bình còn kém xa họa sĩ, nhà thiết kế đã làm ra các tấm biển quảng cáo sừng sững trên các ngôi nhà cao tầng, bên các xa lộ, trên vô tuyến truyền hình và trang quảng cáo của các tờ báo. Tôi nói là thua xa vì chí ít thì các tấm biển quảng cáo cũng giới thiệu một loại hàng hóa mà người có nhu cầu có thể mua, nếu hàng “lởm” thì còn được đổi cái khác, hoặc được đền bù; còn nếu tin vào điều nhà phê bình ca ngợi tít mù mà mua sách, về đọc thấy chán, không giống những gì nhà phê bình đã ca ngợi thì biết kêu ai?          

Trong thế hệ các nhà phê bình văn học tiền bối, theo anh, những ai cần phải được tiếp tục cổ xúy giúp chúng ta có cái nhìn thực chất và đúng đắn hơn về thực trạng nền văn học của mình?

- Mỗi khi đề cập tới vấn đề này, mọi người thường nhắc tới Hoài Thanh, song tôi xin được bổ sung rằng, cùng thời với Hoài Thanh còn có Lê Thanh, Kiều Thanh Quế. Vài chục năm nay, tôi chưa thấy có tác giả nào thực sự là bỉnh bút cần tiếp tục cổ xúy giúp chúng ta có cái nhìn thực chất, đúng đắn hơn về thực trạng văn học. Tuy nhiên tôi vẫn đặt tin cậy vào Huỳnh Như Phương, Trương Đăng Dung,… Đó là những người có tài năng, có trách nhiệm và cần mẫn, không vướng vào sự ồn ào. Trẻ hơn, tôi muốn nhắc tới Hoài Nam, Phạm Xuân Thạch,… Nhất là Hoài Nam, tôi coi anh là một trong số ít tác giả viết phê bình đã kết hợp khá nhuần nhị giữa học thuật và báo chí, tác phẩm phê bình của anh có một số ý kiến xác đáng…    

Tác phẩm văn học không thay đổi theo thời gian, nhưng cách đánh giá về nó thì có thể thay đổi. Tuy nhiên, vẫn có những giá trị văn học bất biến. Nhìn lại hơn nửa thế kỷ vừa qua, tính từ những năm ba mươi của thế kỷ trước, theo anh, những tác phẩm nào và những nhà văn nào mà theo dòng thời gian vẫn còn lại như những đỉnh cao của nền văn chương Việt?

- Điện ảnh và sân khấu đều là nghệ thuật hành động. Song hành động của điện ảnh gọi là “hành động tĩnh”, còn hành động của sân khấu gọi là “hành động động”. Gọi là “hành động tĩnh” vì sau khi tác phẩm điện ảnh hoàn thành, mọi yếu tố liên quan hành động của tác phẩm không thể thay đổi được nữa, hàng trăm năm trôi qua mà hành động trong tác phẩm vẫn y nguyên như lúc mới ra đời. Gọi là “hành động động” vì vẫn một vở diễn do một đạo diễn dàn dựng, vẫn những diễn viên đó tham gia, nhưng mỗi đêm diễn lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố luôn có thể biến động, như trạng thái tâm lý diễn viên chẳng hạn, nên đêm diễn sau không giống hệt đêm diễn trước; rồi nữa là cùng một kịch bản nhưng đạo diễn khác nhau, dàn dựng trong thời điểm lịch sử khác nhau, thậm chí dựng ở nước có nền văn hóa khác,… thì vở diễn vẫn có thể khác nhau. Tôi nghĩ tác phẩm văn học cũng giống như “hành động tĩnh” trong điện ảnh, vì sau khi công bố, tác phẩm không phụ thuộc vào nhà văn nữa, mà tồn tại độc lập với nhà văn, và các yếu tố tư tưởng - nghệ thuật, nội dung - hình thức,… của tác phẩm là bất biến theo thời gian. Tuy nhiên, việc đánh giá tác phẩm lại phụ thuộc vào chủ thể đánh giá với cảm xúc, tiêu chí riêng ra đời từ các điều kiện chủ quan - khách quan riêng của mỗi thời đại. 

Mấy chục năm trước, tôi có ghi vào sổ tay một câu là: “Lịch sử một tác phẩm nghệ thuật là lịch sử của những cách đọc khác nhau, và là lịch sử của những mã thám”, tôi tâm đắc đến tận bây giờ, tiếc là không ghi chú của ai. Đúng thế thật, mỗi thời lại đọc tác phẩm văn học theo cách của mình và khảo sát tác phẩm, phát hiện ra các “mã” (code) mới. Song có lẽ điều này chỉ xảy ra với tác phẩm lớn, mang giá trị xuyên thời gian, đồng vọng qua các thế hệ. Còn thì, dẫu không đánh giá thấp, nhưng tôi vẫn nghĩ tác phẩm nổi tiếng vì đáp ứng được nhu cầu nhất thời xã hội và của độc giả thì khó làm nên một lịch sử đọc, như “Bão biển”, “Cù lao Chàm”,… thậm chí cả “Thời xa vắng” chẳng hạn, nay còn mấy người nhắc đến? Vì thế từ những năm 30 của thế kỷ trước đến nay, có lẽ cần ghi nhận “Số đỏ” (Vũ Trọng Phụng), “Chí Phèo” (Nam Cao), một số bài thơ của Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử,… kịch bản “Vũ Như Tô” (Nguyễn Huy Tưởng); một số bài thơ của Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi,… một số tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Huy Thiệp,… Còn đó có phải là đỉnh cao không, tôi chưa dám khẳng định.               

Có quan điểm cho rằng theo đúng nghĩa của nó, sáng tạo văn học nói riêng và sáng tạo nghệ thuật nói chung không thể có ảnh hưởng lớn tới thực tế xã hội, tới các sự kiện chính trị. Hay nói đúng hơn, ảnh hưởng đó rất khó là tức thì, mà chỉ thẩm thấu một cách rất chậm rãi, rất khó nhìn thấy ngay. Không ngẫu nhiên mà Bob Dylan, nhạc sĩ, thi sĩ, ca sĩ, vừa được trao giải Nobel văn học năm nay đã nói rằng, về thực chất ông không viết một ca khúc chính trị nào vì âm nhạc không thể làm thay đổi thế giới. Anh nghĩ thế nào về quan điểm này?

- Thế giới thay đổi, xã hội thay đổi là kết quả tổng hòa của rất nhiều yếu tố, và mỗi lĩnh vực hoạt động xã hội đều có vị trí, có vai trò riêng trong khi tham gia làm nên sự tổng hòa. Tuy nhiên xem xét lịch sử nhân loại, lịch sử mỗi quốc gia, khi xã hội thay đổi đều thấy nổi lên vai trò của nhận thức, của tư duy - các yếu tố có tính lý trí. Sáng tạo nghệ thuật nói chung và sáng tạo văn học nói riêng, luôn gắn với và chủ yếu tác động tới thể giới cảm xúc, tình cảm. Từ cảm xúc, tình cảm đến lý trí, đến hành động là con đường dài, không phải ai đi trên con đường ấy cũng sẽ tìm ra kết quả đúng. Hơn nữa, thế giới của cảm xúc, tình cảm rất dễ đưa tới sự bồng bột, bức xúc một cách thiếu tỉnh táo. Trong khi đó, không sự thay đổi tích cực nào của thế giới, của xã hội lại bắt đầu từ bồng bột, bức xúc một cách thiếu tỉnh táo. Do vậy theo tôi dù thẩm thấu nhanh hay chậm thì ảnh hưởng của sáng tạo nghệ thuật nói chung, của sáng tạo văn học nói riêng, đến thực tế xã hội, đến các sự kiện chính trị là ở thế khả năng, không phải là tất cả, càng không giữ vai trò quyết định. Tôi nghĩ Bob Dylan hiểu rõ mối quan hệ này.    

Thực tế thì ở thời điểm hiện nay, chúng ta cũng đã nhận ra ảnh hưởng không nhỏ tới tư duy của xã hội từ các tác phẩm viết từ hàng chục năm trước của những nhà văn như Nguyễn Huy Thiệp chẳng hạn. Anh có nghĩ như thế không?

- Nhà văn lớn là người có khả năng phát hiện ra các vấn nạn, phát hiện được những góc khuất lấp của tâm hồn, các trạng huống bi đát,… mà xã hội - con người đã và đang lâm vào; qua tác phẩm, họ mô tả, gửi gắm suy nghĩ và ý nguyện về sự cần thiết phải thay đổi. Qua tác phẩm, suy nghĩ và ý nguyện của nhà văn có thể ảnh hưởng tới suy nghĩ của con người, còn có tác động tới tư duy hay không là việc rất khó khẳng định, vì tư duy là đẳng cấp cao hơn suy nghĩ thông thường, đó là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não con người, phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, phán đoán, lý luận,… Hơn nữa, suy nghĩ của nhà văn, ý nguyện của nhà văn lại không phải là lực lượng sản xuất của xã hội, không phải là lý thuyết chính trị,… vì thế chúng ta kính trọng, đồng cảm, chia sẻ, suy nghĩ cùng nhà văn nhưng từ đó sẽ tư duy ra sao, hành động như thế nào lại là chuyện rất khác.    

Anh nghĩ thế nào về những thông tin trên báo chí liên quan tới tình trạng khó khăn về tài chính của Hội Nhà văn Việt Nam hiện nay?

- Tôi cũng chỉ biết thông tin về khó khăn tài chính của Hội Nhà văn thông qua báo chí, và nói thực là hơi buồn và hơi chán. Buồn, vì tôi không nghĩ hội của những người viết văn lại rơi vào cảnh ngộ như vậy. Chán, vì việc dựa vào “bầu sữa” ngân sách mãi đã trở thành thói quen, khi “bầu sữa” cạn thì Hội loay hoay không biết sẽ sinh tồn bằng cách nào.    

Tôi luôn nghĩ rằng hoạt động của Hội Nhà văn Việt Nam có tác động tích cực đối với đời sống của cộng đồng văn chương nói riêng và xã hội nói chung. Mỗi cá thể sáng tạo, thường là làm việc đơn độc, đơn tuyến, cũng rất cần tới một không gian giao tiếp như Hội Nhà văn. Hơn nữa, những hoạt động mang tính bằng hữu của Hội cũng làm ấm áp hơn không khí làng văn. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng sức hấp dẫn của Hội đối với những người sáng tác thực sự không còn như trước nữa. Ngay cả với hội viên cũng thế. Anh nghĩ sao về câu chuyện này?

- Dẫu thế nào thì Hội Nhà văn vẫn là địa chỉ cộng đồng nghề nghiệp, là nơi tạo dựng, tạo lập điều kiện để nhà văn thiết lập những mối tương tác nghề nghiệp. Đến các đại hội, hội nghị, hội thảo, trại sáng tác do Hội Nhà văn tiến hành, nhìn các nhà văn tay bắt mặt mừng, có người ôm chầm lấy nhau, rồi tối tối họ ồn ào hoặc trầm ngâm bên ấm trà, hay ly café,… sẽ hiểu các cuộc gặp gỡ như vậy không dễ. Ngẫm ra cũng phải, là bạn văn mà người ở đầu này đất nước người ở đầu kia đất nước, dù biết tiếng nhau nhưng đâu dễ gặp. Đến nhiều nơi, tôi đã gặp nhà văn ở địa phương hồ hởi kể về các cuộc gặp gỡ, nhắc tới anh nhà văn này chị nhà thơ kia một cách trân trọng, tôi hiểu đối với họ, đó là kỷ niệm không thể quên. Không phải hội viên nhưng tôi nghĩ, nếu yêu Hội của mình, tự hào và muốn Hội xứng đáng với những gì mình kỳ vọng, mỗi hội viên nên chung tay khắc phục, không nên ỉ eo, chê bai, càng không nên xúc phạm Hội. Nếu không còn vừa ý với Hội, đã chán Hội thì nghỉ sinh hoạt luôn cho thoải mái, sao lại phải bức xúc về điều mình hoàn toàn có thể đoạn tuyệt? Nghĩ đến câu nói của Chủ tịch Hội rằng: “Số tiền hội phí thu từ 1.000 người trong Hội Nhà văn mỗi năm chưa được 6 triệu đồng, chưa đủ đi thăm viếng một số đám ma!” mà não nề. Như vậy, trung bình mỗi năm một hội viên đóng 6.000 đồng hội phí, một con số không thể tin nổi! Tôi nghĩ sức hấp dẫn của Hội Nhà văn suy giảm là tập hợp của nhiều yếu tố cả chủ quan lẫn khách quan. Thiển nghĩ, để lấy lại sức hấp dẫn, không có cách nào khác là đã đến lúc cần kết hợp chặt chẽ giữa việc lãnh đạo chấn chỉnh cách thức tổ chức và hoạt động của Hội, hội viên tự ý thức để nâng cao trách nhiệm. Với bất cứ hội nghề nghiệp nào cũng vậy, một ngày mà hội được coi như nơi ban phát ân huệ, một ngày mà hội viên tự thấy mình là “nhân vật quan trọng” có quyền được hưởng các ưu đãi trực tiếp từ Hội và gián tiếp từ xã hội, thì ngày ấy Hội còn suy giảm uy tín và sức hấp dẫn.           

Nghĩ về văn học nước nhà trong thời gian tới, anh lạc quan hay bi quan?

- Không đến mức bi quan, song tôi cũng không lạc quan. Và tôi nghĩ tình trạng “đi ngang” sẽ còn kéo dài một thời gian nữa, vì chưa thấy xuất hiện những cây bút phát lộ dấu hiệu của tài năng và sự thông tuệ về tri thức.

Xin cảm ơn anh!  

Hồng Thanh Quang (thực hiện)

Tin cùng chuyên mục

Tin mới