Bạn biết gì về loài vẹt ?

Thứ sáu, 16/06/2017 08:55:00 | Khám phá
Vẹt là một trong những loài chim cảnh được ưa thích, nhưng cũng không nhiều người biết rằng chúng có tới 86 chi, 372 loài. Vẹt có mặt khắp nơi trên trái đất nhưng tập trung ở vùng nhiệt đới và ôn đới nam bán cầu. Trong điều kiện tự nhiên, chúng thường làm tổ trong hốc cây, ăn hạt, trái cây, chồi là chính.

1. Quan trọng nhất, vẹt là một trong số rất ít loài chim biết bắt chước tiếng người. Điều đó khiến cho chúng chiếm được vị trí đặc biệt trong rất nhiều loài chim cảnh.

Tuy nhiên, người ta còn thích vẹt ở chỗ chúng có bộ lông sặc sỡ- đó là sự pha trộn màu sắc một cách tự nhiên rất tuyệt vời. Chúng có chiếc mỏ to, dài so với thân mình. Thoạt nhìn như không tương xứng, nhưng chính vì thế lại tạo ra sự độc đáo cho loài chim này.

Từ xưa, người ta đã cho rằng loài vẹt còn có thần thái, tính cách rất giống với con người. Điều đó khiến người ta nghĩ rằng chúng có khả năng suy nghĩ ở mức độ cao, biết cân nhắc trước khi hành động. Không ít người nghiên cứu sinh vật học cho rằng não bộ của chúng rất đặc biệt, vượt trội so với những loài chim khác, vượt thoát khỏi tính bản năng gốc mà tiệm cận với trình độ tư duy.

Với nhiều người nuôi chim cảnh, thì vẹt là loài chim “biết chia sẻ” vui buồn, chúng có thể ngủ cùng con người, trở thành người bạn gần gũi chia sẻ và xoa dịu buồn đau. Có lẽ vì thế mà ở một số quốc gia, người ta đã dùng vẹt vào việc điều trị các chấn thương về tâm lí, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ.

Trong tự nhiên, vẹt sống theo đàn.

Trong số các loài vẹt thì  vẹt xám châu Phi, két uyên ương (vẹt yến), vẹt Amazon được coi là loài thông mình hơn cả khi chúng học tiếng người rất nhanh cũng như có khả năng hiểu được tiếng người, thái độ của chủ.

Vẹt Amazon nguồn gốc Nam Mỹ, có bộ lông màu xanh rất đẹp. Nếu chỉ nhìn vào màu lông sẽ khó phân biệt con trống với con mái. Chúng học nói tiếng người khá nhanh nhưng không phải là giống vẹt thân thiện khi mà chúng chỉ “tuân thủ” mệnh lệnh của người nuôi. Loài vẹt Nam Mỹ này có giọng hót khá ngọt ngào, khi không phải nói tiếng người chúng thường hót một mình. Nói như Marine Phlomerian- một nhà điểu học người Mỹ thì những lúc đó người ta có cảm giác như chúng đang tự sự, “dốc bầu tâm sự” của riêng mình.

Vẹt Amazon xứng đáng là Nữ hoàng của các loài vẹt. Cũng cần phải biết rằng, trước khi được nuôi như một loài chim cảnh thì chúng đã phải trải qua quãng thời gian rất khó khăn để sinh tồn trong rừng mưa Amazon- Marine Phlorian nói.

Nếu vẹt Amazon phần lớn có bộ lông xanh thì cũng tại khu rừng này có một loài vẹt lại có bộ lông vàng, đó là vẹt Yellow-crowned. Chúng cũng có khả năng học nói tiếng người nhanh, nhưng có tới 2/3 trong số chúng không chịu phát âm, cho dù đã được huấn luyện chu đáo. Tuy nhiên, không vì thế mà chúng bị thất sủng, do màu vàng của bộ lông khiến chúng được săn lùng khá ráo riết.

Đôi vẹt.

Cũng nằm trong họ vẹt, một loại khác sống tập trung tại chân núi Himalaya cũng rất độc đáo. Người địa phương thường gọi chúng là “yểng”. Những con yểng này sống ở độ cao trên 2000 mét so với mực nước biển, lông màu xanh đen có ánh biếc, mỏ màu vàng đỏ, đầu có lông sọc vàng. Yểng cũng là loài chim học nói tiếng người rất nhanh, đặc biệt khi được thuần dưỡng sống trong môi trường nuôi nhốt chúng lại có khả năng “nhảy múa” không khác gì một vũ công ba-lê. Cũng chính vì thế mà loài chim này có giá bán rất cao.

Gần với loài yểng này là giống két uyên ương hay còn gọi là “vẹt yến”, tập trung ở Úc. Thật khó tưởng tượng rằng chúng có thể học được tới 300 từ của con người. Khả năng học tiếng người của chúng chỉ thua loài vẹt xám châu Phi- theo Marine Phlorian.

2. Dạy cho vẹt nói được tiếng người không hề dễ, cho dù khả năng bắt chước của chúng rất tốt. Theo những người nhiều năm nuôi dạy vẹt thì muốn thế, điều đầu tiên là phải nuôi từ lúc nó mới nở. Còn khi nuôi vẹt bổi (vẹt đã lớn) thì việc huấn luyện nó nói khó hơn rất nhiều. Sau khoảng 1-2 năm, nó sẽ học được một vài tiếng nào đó nhưng âm thanh phát ra chỉ ú ớ cho dù chủ nó rất công phu nhắc đi nhắc lại cho nó một hai từ rất nhiều lần trong ngày.

Nhìn chung, muốn huấn luyện một con vẹt nói được thì phải rất kiên nhẫn, đôi khi phải ròng rã đến 3 năm. Người nào nóng tính thì không thể huấn luyện vẹt nói được. 

Mỏ- bề ngoài dễ nhận biết của loài vẹt.

Theo kinh nghiệm, vẹt trống dễ tập nói hơn vẹt mái. Nhìn bề ngoài (con non) thì đầu con trống thường có độ vuông hơn, còn con mái thì khung xương chậu to. Khi nuôi vẹt non, rất chú ý không thì chúng... chết no. Việc chúng há mỏ không hẳn là do đói, đòi thức ăn mà chỉ như một thói quen. Nếu cứ thấy nó há mỏ lại nhồi thức ăn vào thì chúng sẽ bị bội thực mà chết.

Cũng cần chú ý khi nuôi vẹt non là hạn chế việc bế ẵm chúng, vì  khiến chân chúng dễ bị cong, khó đứng vững khi lớn, làm con chim xấu đi. Vào tháng thứ 6 bắt đầu dạy chúng học nói là thích hợp. Lúc đầu chỉ dạy những cử chỉ đơn giản, khi chúng đã thân mới dạy nói. Những người huấn luyện vẹt nhiều kinh nghiệm cho rằng, để tạo sự thân thiện, hàng ngày nên vuốt bàn chân và ngón chân của nó nhiều lần, khi chúng tự động đưa chân ra để được vuốt thì lúc đó việc dạy chúnghọc nói không còn là điều quá khó.

Vẹt là loài chim “biết chia sẻ” vui buồn, chúng có thể ngủ cùng con người, trở thành người bạn gần gũi chia sẻ và xoa dịu buồn đau. Có lẽ vì thế mà ở một số quốc gia, người ta đã dùng vẹt vào việc điều trị các chấn thương về tâm lí, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ.

    Trần Tuấn Hưng (Tổng hợp)