Người dân, rừng và biển

Thứ năm, 08/06/2017 07:50:00 | Góc nhìn Đại đoàn kết
Việc Chính phủ trình Quốc hội Dự án Luật Thủy sản (sửa đổi) và Dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (ngày 6/6); cũng như việc ĐBQH thảo luận tại tổ về hai Luật này (ngày 7/6) nhận được sự quan tâm của xã hội. Trên thực tế, đây là những vấn đề dân sinh, an sinh xã hội tại những khu vực được coi là “nhạy cảm”, thời gian qua đã nhận được nhiều phản ánh, kể cả bức xúc trong dư luận.

Buông lỏng quản lý, thiếu sự giám sát của cộng đồng nhiều cánh rừng bị tàn phá.

Trước hết, đó là việc đóng tàu vỏ thép công suất lớn để ngư dân vươn khơi bám biển, khai thác nguồn lợi từ biển một cách bền vững. Với những phản ánh từ thực tế chất lượng nhiều tàu vỏ thép cao giá nhưng chất lượng không bảo đảm, mới đưa vào hoạt động đã xuống cấp, hư hỏng; ngày 23/5, Văn phòng Chính phủ đã có công văn hỏa tốc truyền đạt chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc về việc kiểm tra, làm rõ các vấn đề liên quan đến chất lượng tàu vỏ thép. 

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, kiểm tra làm rõ các vấn đề liên quan đến hoạt động đóng mới, nâng cấp, đăng kiểm tàu cá theo Nghị định số 67/2014-NĐ-CP ngày 7/7/2014 của Chính Phủ về một số chính sách phát triển thủy sản, kịp thời đề xuất xử lý nghiêm sai phạm.

Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu chủ động rà soát, sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền các tiêu chuẩn, quy chuẩn liên quan đến tàu cá vỏ thép, vỏ gỗ, vỏ vật liệu mới nhằm bảo đảm chất lượng, an toàn cho tàu cá khi hoạt động thủy sản trên biển. Các tỉnh, thành phố ven biển tăng cường giám sát, kiểm tra hoạt động đóng mới, nâng cấp tàu cá theo Nghị định  kể trên.

Còn theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Vũ Văn Tám, Bộ sẽ cử các đoàn công tác đến các tỉnh có tàu cá vỏ thép mới đóng đã bị hư hỏng để cùng chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng liên quan kiểm tra, xác định khiếm khuyết trong quá trình đóng các con tàu này.

Cùng đó sẽ yêu cầu các cơ quan chức năng liên quan rà soát, xác định trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan, đơn vị liên quan. Ông Tám cũng cho rằng, trong “vụ” này, trách nhiệm chính thuộc về cơ quan đăng kiểm thuộc Tổng cục Thủy sản. 

Thật khó hình dung một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước là hỗ trợ ngư dân đóng tàu vỏ thép vươn khơi, khai thác ngư trường xa bờ, bám biển bám đảo lại đã bị lợi dụng, trục lợi.

Tàu bàn giao cho ngư dân sử dụng chưa được 1 năm đã xuống cấp, thân tàu rỉ sét, máy hư hỏng phải nằm bờ sửa chữa. Cũng cần nhắc lại, để có những con tàu vỏ thép đó, cùng với sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, thì ngư dân cũng phải vay mượn để có được tiền tỉ đóng tàu.

Đi biển là nghề hết sức vất vả, nguy hiểm, phải đối mặt với thiên tai lẫn nhân tai, tính mạng nổi trôi trên đầu từng con sóng. Vả lại, không phải lúc nào cũng đánh bắt được nhiều hải sản, việc thất bát là không thể biết trước. Ưu tiên cho bà con ngư dân là chính sách lớn, hết súc đúng đắn, vì thế không thể bị lợi dụng, làm hỏng. 

Nhưng, câu hỏi đặt ra là: Nguyên nhân từ đâu?

Trước khi bàn về nguyên nhân, xin được nói về việc bảo vệ và phát triển rừng. Rừng và biển là khác nhau, nhưng ở đây hai vấn đề cùng chung một mẫu số.

Nếu như tàu vỏ thép công suất lớn mới sử dụng đã xuống cấp, hư hỏng, phải nằm bờ thì với rừng cho dù đã có lệnh cấm khai thác bừa bãi của Thủ tướng, thì vẫn cứ bị xẻ thịt.

Suốt nhiều năm qua, việc coi rừng là “của trời cho” nên đã diễn ra việc khai thác quá bừa bãi. Nạn lâm tặc hoành hành dữ dội. Ở nhiều địa phương, lâm tặc còn mở cả đường cho xe tải chuyên dụng vào rừng.

Lâm tặc lập lán trại trong rừng để chặt hạ những cây gỗ quý, lâu năm. Nhiều cánh rừng nhìn bên ngoài vẫn xanh tốt nhưng ruột bên trong đã rỗng. Cuộc chiến giữa kiểm lâm và lâm tặc vẫn không có điểm dừng và vì thế rừng vẫn tiếp tục bị chặt phá.

Với việc phát triển quá rầm rộ hệ thống nhà máy thủy điện trong suốt một thời gian dài, nhiều diện tích rừng, đất rừng biến mất, nhường chỗ cho những hồ nước, đập thủy điện và nhà máy. Theo quy định, chủ nhà máy phải trồng lại diện tích rừng tương đương nhưng rất ít ông chủ thực hiện.

Điều đó khiến cho diện tích rừng suy giảm nghiêm trọng, có thể nói là cây rừng tự nhiên bị chặt nhiều hơn gấp bội so với số cây mới trồng. 

Trở lại với câu hỏi: Nguyên nhân từ đâu chung cho cả biển và rừng? Giới chuyên gia, nhà quản lý, cũng như công luận, người dân đã nói rất nhiều. Chung quy có hai nguyên nhân chính.

Một là do lòng tham, trục lợi cá nhân mà hy sinh lợi ích cộng đồng, chiếm đoạt lợi ích của những người được thụ hưởng ưu đãi từ chính sách. Và hai là do sự buông lỏng giám sát của những cơ quan có trách nhiệm.

Về lòng tham, đó là điều cần lên án. Nhưng, cũng không thể kêu gọi lòng tốt, “thức tỉnh lương tâm” mãi được, mà cần có chế tài, xét xử nghiêm minh khi phát hiện sai phạm.

Không lý gì việc đổi từ thép nước này sang thép nước khác chất lượng tệ hơn hẳn, giá thấp hơn hẳn để đóng tàu ra khơi mà lại không bị xử lý. Luật pháp không nghiêm sẽ bị coi thường.

Người này làm được thì người khác cũng theo đó mà làm, dẫn đến hậu quả dây truyền không khác gì dịch bệnh. Cuối cùng, người bỏ tiền ra đóng tàu là lãnh hạn. Ai sẽ đền bù thiệt hại cho họ? Không rõ!

Về giám sát. Tất nhiên là có những cơ quan chức năng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao cụ thể. Họ là những công chức, viên chức được hưởng lương để làm việc đó.

Nhưng rồi, lại có nhiều lí do để biện minh cho việc không hoàn thành nhiệm vụ đó. Rừng bị tàn phá, đành là do lâm tặc, nhưng kiểm lâm là lực lượng chính giữ rừng thì trách nhiệm đến đâu?

Không thể mãi đưa ra lý do lực lượng mỏng để thoái thác trách nhiệm. Mỏng thế chứ mỏng nữa nhưng nếu tinh thần trách nhiệm cao, không bắt tay với lâm tặc thì đâu đến nỗi. Bên cạnh đó, vai trò của chính quyền địa phương lại hết sức mờ nhạt.

Không lẽ cánh rừng ở xã đó bị chặt hạ mà ông chủ tịch xã không biết, trong khi người dân lại biết. Không lẽ gì chủ nhà máy thủy điện không chịu trồng lại rừng mà ông chủ tịch xã không biết. Biết nhưng làm ngơ.

Trong câu chuyện tàu vỏ thép (biển - thủy sản) và rừng bị tàn phá, dễ dàng nhận thấy vai trò người dân bị coi nhẹ. Ngư dân chỉ biết đăng ký, bỏ tiền ra để rồi nhận tàu. Họ là người bỏ tiền ra, là người thụ hưởng nhưng lại không được kiểm tra, giám sát quá trình đóng con tàu đó ra sao. Cung cách “chìa khóa trao tay” này đã gạt người dân sang một bên.

Trong khi người dân địa phương thiếu đất canh tác, thiếu đất dựng nhà thì rừng vẫn bị đốn hạ hàng ngày và ngay trước mắt. Người dân biết, người dân phản ánh, tố cáo nhưng không chuyển. Dân đau lắm vì họ không thể đơn  phương “chiến đấu” với lâm tặc để giữ rừng, giữ đất, giữ môi trường.

Với biển và rừng, câu chuyện sẽ vẫn còn dài nếu như người dân là chủ thể nhưng lại không được coi là chủ thể. Giám sát từ người dân, từ cộng đồng phải được coi trọng. Thực tế cho thấy, khi ý kiến người dân không được lắng nghe, người dân bị gạt sang một bên thì hậu quả sẽ rất lớn. Bài học đó rất cần được nghiền ngẫm khi Luật về thủy sản và rừng được sửa đổi, thông qua.  

 Nam Việt