Lương tối thiểu và người lao động yếu thế

Thứ Năm, 14/09/2017 08:05:00 | KINH TẾ
Theo báo cáo “Tiền lương và năng suất ở Việt Nam” của Viện nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) về việc làm, tác động của tăng lương tối thiểu làm giảm việc làm nhiều hơn trong khu vực nhà nước (lương tối thiểu tăng 1% dẫn đến việc làm giảm 0,25%), nhưng tác động nhẹ và không đáng kể ở khu vực tư nhân và FDI. Đáng chú ý, theo bản báo cáo, lương tối thiểu không có khả năng bảo vệ lao động yếu thế.

Tiền lương vẫn chưa đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động. Ảnh: TL.

Lương tối thiểu chưa “đỡ” được lao động yếu thế
 
Theo Báo cáo “Tiền lương và năng suất ở Việt Nam” do Viện nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) công bố sáng ngày 13/9 tại Hà Nội thì “lương tối thiểu không phát huy vai trò hiệu quả nếu được xây dựng như một chính sách bảo trợ xã hội.
 
Lý do hệ thống lương tối thiểu hiện nay không bao gồm người lao động không có hợp đồng, cũng như không có nhiều tác dụng đối với các nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương trong xã hội. Đáng chú ý về việc làm tác động của tăng lương tối thiểu làm giảm việc làm nhiều hơn ở khu vực nhà nước nhưng tác động nhẹ và không đáng kể ở khu vực tư nhân và FDI”.
 
Về lợi nhuận, khu vực tư nhân chịu những tác động tiêu cực đáng kể từ tăng lương tối thiểu. Cụ thể, khi lương tối thiểu tăng 100%, tỷ lệ lợi nhuận có khả năng giảm 3,25 điểm phần trăm. Điều này cho thấy, chính sách điều chỉnh tiền lương tối thiểu nhanh và liên tục, có thể làm giảm tốc độ tích lũy tư bản của khu vực doanh nghiệp tư nhân, khiến khu vực này tăng trưởng chậm lại.
 
Đáng chú ý, theo bản báo cáo, lương tối thiểu không có khả năng bảo vệ lao động yếu thế. Cụ thể đối với người lao động làm công ăn lương (không bao gồm công nhân viên chức, cũng như các đối tượng làm việc tại cơ quan hành chính sự nghiệp của Nhà nước) từ đủ 15 tuổi trở lên, nghiên cứu cho thấy, một bộ phận lớn người lao động làm việc tại các hộ gia đình, hay hộ sản xuất và kinh doanh cá thể nhận lương thấp hơn mức lương tối thiểu vào năm 2014.
 
“Phân tích về xác suất một cá nhân có thu nhập thấp hơn lương tối thiểu đã chỉ ra rằng, nhìn chung, lao động trẻ tuổi (hoặc lớn tuổi), có trình độ học vấn tương đối thấp, người làm việc không có hợp đồng (không được tham gia vào bảo hiểm xã hội) là những người có khả năng cao bị trả dưới mức lương tối thiểu. Thêm vào đó, hệ thống lương tối thiểu hiện nay dường như không bao hàm đầy đủ các nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương trong xã hội. Điều này cho thấy việc áp dụng lương tối thiểu như một chính sách bảo trợ xã hội (nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động và giảm nghèo) có thể không phát huy tính hiệu quả”- TS Nguyễn Tiến Dũng, thành viên nghiên cứu Viện VEPR cho biết.
 
Ông Mai Đức Chính- Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho rằng tiền lương tối thiểu vẫn chưa đáp ứng được mức sống tối thiểu của người lao động.
 
Doanh nghiệp mất lợi thế cạnh tranh vì tăng lương
 
Theo báo cáo, lương tối thiểu tăng ở mức trung bình hằng năm đạt hai con số trong giai đoạn 2007-2015, vượt xa tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người và chỉ số giá tiêu dùng. Cụ thể  tỷ lệ lương tối thiểu trên năng suất lao động tăng nhanh, từ 25% năm 2007 đạt mức 50% năm 2015. Xu hướng này không giống như các quốc gia khác như Trung Quốc, Indonesia hay Thái Lan. Khoảng cách giữa tăng trưởng lương tối thiểu và tăng trưởng năng suất lao động ở Việt Nam đã giãn rộng nhanh hơn so với các quốc gia khác.
 
Từ năm 2007 đến 2015, lương trung bình tại Việt Nam tăng 1,5 lần (mức tăng là 2 lần trong giai đoạn 2004-2015). Lương trung bình tăng nhanh đến năm 2010 nhưng chậm lại đáng kể trong giai đoạn 2010-2014, phần nào phản ánh sự suy giảm tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, phần chi trả cho các khoản bảo hiểm, bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp cũng tăng theo thời gian.
 
“Năm 2017, chi phí tối thiểu các doanh nghiệp (DN) tại Việt Nam phải gánh chịu, được tính bằng tổng lương tối thiểu và đóng góp vào các khoản bảo hiểm (bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp) gần chạm mức chi phí tại Thái Lan, và cao hơn mức chi phí tại Indonesia”- báo cáo nêu rõ.
 
Theo TS Nguyễn Tiến Dũng thì trong trường hợp những lợi ích từ các khoản đóng góp này không được nhìn nhận bởi người lao động, khoản đóng góp bảo hiểm khá lớn ở Việt Nam có thể tạo ra những “khoảng trống thuế” giữa chi phí lao động mà DN phải gánh chịu với khoản thu nhập thực tế của người lao động. 
 
Ngoài ra, phân tích ở mức độ DN với trọng tâm là các DN tư nhân và FDI trong các ngành chế biến chế tạo đã chỉ ra rằng, tăng lương tối thiểu làm giảm việc làm trong tất cả các ngành công nghiệp. DN có quy mô lớn hơn (thể hiện qua số lượng lao động nhiều hơn) thì cắt giảm việc làm nhiều hơn. Về đầu tư máy móc, khi mức lương tối thiểu tăng, các ngành công nghiệp thâm dụng lao động như dệt may, sản phẩm gỗ và nội thất có xu hướng thay thế lao động bằng máy móc, trong khi các ngành công nghiệp thâm dụng vốn như điện tử và sản xuất máy móc lại giảm đầu tư máy móc.
 
Điều này cho thấy DN chỉ tiếp tục mở rộng sản xuất và đầu tư vào máy móc (để thay thế lao động) trong những ngành Việt Nam đang có lợi thế so sánh tĩnh. Còn với một số ngành quan trọng khác, DN có thể không muốn mở rộng vì lo ngại giá lao động sẽ tiếp tục tăng trong tương lai, và do đó mất đi lợi thế cạnh tranh. 
 
“Trung bình, lương tối thiểu tăng 1% có thể khiến lương trung bình tăng 0,32% và lao động giảm 0,13%. Ngoài ra, khi lương tối thiểu tăng 100%, tỷ lệ lợi nhuận (đo bằng lợi nhuận trên doanh thu) sẽ giảm 2,3 điểm phần trăm”- báo cáo VEPR dẫn chứng.
 

Trưởng Đại diện Văn phòng JICA Việt Nam Fujita Yasuo: Nên tính lương tối thiểu theo giờ. Tăng lương nhưng năng suất lao động không tăng tương ứng sẽ làm tăng chi phí của các DN, đồng thời giảm khả năng cạnh tranh cho nền kinh tế. Do đó điều chỉnh mức lương tối thiểu phải phù hợp với tăng trưởng năng suất lao động. Theo tôi, thay vì tính lương tối thiểu theo tháng, Việt Nam nên dần chuyển sang hệ thống tính theo giờ. Điều này đảm bảo rằng những người làm việc theo giờ hoặc theo ngày công có thể hưởng đầy đủ các quyền lợi của họ, đồng thời cho phép các nhà tuyển dụng linh hoạt hơn trong việc sử dụng lao động. Bên cạnh đó mức lương tối thiểu phải được điều chỉnh dựa trên một số nguyên tắc nhất định, và do đó minh bạch hơn và dễ dự đoán được hơn. Ngoài sự tham gia của 3 bên trong Hội đồng tiền lương quốc gia (Chính phủ, đại diện của người sử dụng lao động ở trung ương, và đại diện của người lao động ở trung ương), Hội đồng nên có thêm sự tham gia của các chuyên gia, có chuyên môn sâu về kinh tế vĩ mô và kinh tế lao động, có khả năng đánh tác động của mức lương tối thiểu đối với việc làm, thu nhập trước/sau khi điều chỉnh lương tối thiểu. 

Ông Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng VEPR: Chính sách lương tối thiểu đang thất bại.  Việc tăng lương tối thiểu không đúng với tăng năng suất lao động không chỉ kìm hãm tới hoạt động sản xuất kinh doanh của DN mà còn ảnh hưởng tiêu cực tới người lao động. Trong giai đoạn 2004-2015, năng suất lao động của Việt Nam tăng đáng kể với mức tăng trung bình đạt 4,4%. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng bình quân của lương (5,8%) vượt tốc độ tăng năng suất lao động. Mức chênh lệch giữa tăng trưởng năng suất lao động với lương tối thiểu và lương trung bình, nếu kéo dài, sẽ từ từ phá vỡ cân bằng trên nhiều khía cạnh của nền kinh tế, đặc biệt là cản trở tích lũy vốn con người, giảm động lực của nhà đầu tư, lợi nhuận của DN và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đáng lưu ý việc lương tối thiểu tăng không hợp lý buộc DN phải cắt giảm sa thải lao động, khi đó sẽ đẩy người lao động vào khu vực phi chính thức, không được hỗ trợ về mặt chính sách
Lương tối thiểu là một công cụ để hỗ trợ người lao động, nhưng bản chất vấn đề nằm ở năng suất lao động. Nếu không có sự cải thiện vững chắc của năng suất, nỗ lực tăng lương tối thiểu sẽ dần thủ tiêu sức cạnh tranh của nền kinh tế, dẫn tới thất nghiệp nhiều hơn. Trong khi đó thực tế cho thấy lương tối thiểu đã không bảo vệ người lao động và không công bằng đối với người không được bảo vệ bởi lương tối thiểu (người không có hợp đồng lao động). 

Ông Mai Đức Chính- Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: Nguồn nhân lực yếu vì “thiếu chất” khó tăng được năng suất.   Tôi thấy phạm vi nghiên cứu khá hẹp, chưa có góc nhìn toàn diện đầy đủ về tác động của việc tăng lương tối thiểu tới các khu vực, ngành nghề kinh tế; báo cáo tiếp cận từ phía DN nhiều hơn thay vì phải tìm hiểu đời sống người lao động. Năng suất lao động được đề cập trong báo cáo là năng suất lao động xã hội là chưa thỏa đáng. Cần phải đánh giá tỷ lệ tăng tiền lương tối thiểu so với chỉ số năng suất lao động công nghiệp... Chúng ta cũng đang nhầm lẫn 2 khái niệm lương tối thiểu với tốc độ tăng lương tối thiểu. Tới nay sau rất nhiều lần trì hoãn, tiền lương tối thiểu vẫn chưa đáp ứng được mức sống của người lao động. Thực tế theo khảo sát của Tổng LĐLĐVN, hiện nay cuộc sống của người lao động vô cùng khó khăn, chỉ có 51,3% người lao động có thu nhập vừa đủ trang trải cuộc sống; 20,6% cho biết phải chi tiêu tằn tiện, kham khổ; 12,0% thu nhập không thể đủ sống và chỉ có 16,1% người lao động là có thể có tích lũy từ thu nhập.
Hiện nay các DN đang duy trì 2 bảng lương, một bảng lương tối thiểu để đóng BHXH, thứ hai là bảng lương gồm tổng thu nhập. Lợi dụng việc duy trì hai bảng lương này phần lớn các DN trốn đóng BHXH cho NLĐ chính vì vậy nên họ mới sợ tăng lương tối thiểu. Tuy nhiên, tới năm 2018 theo Luật BHXH việc đóng BHXH theo tổng thu nhập thì tôi tin chắc rằng sẽ không còn DN nào có thể kêu, than về  mức lương tối thiểu được.

 
Lê Minh Long

Tin cùng chuyên mục

Tin mới