Cuộc đời vất vả của con gái Bác Tôn

Thứ ba, 26/09/2017 08:35:00 | Tinh Hoa Việt
Cũng đã khá lâu tôi mới lại đến thăm vợ chồng bà Tôn Thị Hạnh, con gái đầu của cố Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng. Bà là vợ của ông Dương Văn Phúc, nguyên là Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, một người thủ trưởng mà tôi rất kính mến. Chả là, lần gần đây nhất có cuộc gặp mặt của cán bộ hưu trí Văn phòng Chính phủ tôi không thấy ông Dương Văn Phúc tới dự. Hỏi thăm mới biết ông bị ngã phải nằm một chỗ, lâu rồi không đi lại được.


Bác Tôn và các con cháu (bà Tôn Thị Hạnh thứ 2, ông Dương Văn Phúc, thứ 3 phải sang).

Cách đây cũng đã 10 năm, lần đầu tiên tôi đến thăm vợ chồng bà Tôn Thị Hạnh - Dương Văn Phúc. Khi ấy cả hai ông bà tuy đều đã quá tuổi xưa nay hiếm nhưng vẫn còn khỏe mạnh. Bà lom khom đi lại, tự tay pha trà rồi ngồi cùng chồng tiếp khách. Nhìn bà, lưng còng như chiếc đòn gánh cong cong, mòn vẹt của các bà bán hàng rong, không hiểu sao tôi lại nhớ tới bà nội tôi, một người phụ nữ về già lưng cũng còng như thế. Tôi cứ nghĩ người nào lưng còng như bà nội tôi đều có cuộc đời vất vả. Chả lẽ bà Tôn Thị Hạnh, con của Chủ tịch nước mà cũng vất vả hay sao?

Trong căn phòng khách hơn chục mét vuông, nhìn ra đường Cao Bá Quát, Hà Nội, tấp nập xe cộ, hôm ấy tôi được nghe ông bà Dương Văn Phúc - Tôn Thị Hạnh kể về cuộc đời mình, nhiều lúc khiến tôi ngạc nhiên tự hỏi: Đời bà có lúc khổ như vậy sao?

Bà Tôn Thị Hạnh người nhỏ nhắn, không có khuôn mặt hay cử chỉ của một "mệnh phụ phu nhân" hay của một người con nhà “cành vàng lá ngọc", như người ta thường hình dung về vợ con các bậc quyền cao chức trọng.

Trên khuôn mặt người phụ nữ đã bước qua tuổi 80 này, vẫn thấy những nét đẹp của một thời xuân sắc, nhưng lại cứ hiển hiện điều gì rất khó diễn tả về sự khắc khổ, vất vả trong đời còn đọng lại.

"Con có gặp ba thì đừng khóc mà ba buồn"

Trong một bài viết về gia đình in trong tập sách "Tôn Đức Thắng, Người cộng sản mẫu mực, biểu tượng của đại đoàn kết" (NXB Chính trị Quốc gia, 2003), bà Tôn Thị Hạnh kể rằng cha mẹ bà lấy nhau không phải bình thường như mọi đôi trai gái khác mà là một việc đền ơn trả nghĩa.

Năm 1912, sau khi tổ chức và lãnh đạo cuộc bãi công của học sinh Trường Bách nghệ và công nhân Nhà máy Sửa chữa tàu thủy Ba Son, Sài Gòn, anh Hai Thắng bị thực dân Pháp lùng bắt, phải trốn sang Pháp làm công nhân trong một công ty hàng hải rồi làm thợ máy trong hải quân Pháp.

Cùng sang Pháp với anh Hai Thắng, có anh Ba Sứ, do quý mến anh Hai nên đã viết thư về gia đình nói cha mình gả người chị gái cho anh. Khi anh Ba Sứ chẳng may lâm bệnh chết, anh Hai Thắng đứng ra lo liệu đám tang cho bạn.

Khi về nước, anh Hai Thắng tìm đến thăm gia đình anh Ba Sứ ở Vĩnh Kim, Mỹ Tho, đưa tấm ảnh chụp hôm lễ tang có anh và một số bạn đứng bên quan tài anh Ba. Để trả cái ơn trên, cha mẹ anh Ba Sứ đã gả con gái của mình là Đoàn Thị Giàu cho anh Hai Thắng.

 Năm 1926 bé Tôn Thị Hạnh ra đời, là kết quả của mối tình ân nghĩa sâu nặng theo di nguyện của người cậu ruột để lại…

Trở lại Sài Gòn, anh Hai Thắng xin vào làm công nhân cho một hãng xe ôtô của Pháp và tiếp tục hoạt động bí mật xây dựng cơ sở Công hội trong thành phố.

Năm 1929, anh bị thực dân Pháp bắt giam ở Khám lớn Sài Gòn, sau đó bị kết án 20 năm khổ sai, đến tháng 6/1930 bị đày ra Côn Đảo.

Trước ngày anh Hai bị bắt, chị Hai sinh con thứ ba, là con trai, đặt tên là Tôn Đức Liêm. Sinh con được ít ngày, chị Hai đã phải chạy chợ và mỗi tháng một lần lại gánh gà, gánh thỏ từ Mỹ Tho lên Sài Gòn bán, cũng là để dò thăm tin tức của chồng.

Biết anh Hai Thắng bị giam ở Khám lớn Sài Gòn, chị về đưa đứa con đầu là Hạnh và đứa con út là Liêm còn ẵm ngửa lên thăm. Khi đến cửa Khám lớn Sài Gòn, chị dặn con:

- Con có gặp ba thì đừng khóc mà ba buồn…

Gặp cha, thấy cha bị còng hai chân, lê từng bước, còn mẹ lại cố cười nói tự nhiên, đưa đứa em trai cho cha bế để cha khỏi buồn, thương cha Hạnh không dám khóc mà nước mắt cứ vòng quanh!

Gánh chè và vuông lụa ngày cưới

Mười sáu năm cha bị giam cầm ở Côn Đảo là mười sáu năm dài dằng dặc mà mẹ con, chị em Hạnh trải qua biết bao cơ cực, cố sống để chờ ngày chồng, cha được trở về. Những ngày mẹ gánh gà, gánh thỏ từ  Mỹ Tho lên Sài Gòn bán, ba chị em Hạnh thui thủi ở nhà, tự lo mọi việc.

Một lần, khi Liêm ba tuổi thì bị ốm nặng, mẹ vắng nhà, Hạnh phải nhờ người mua thuốc cho em uống. Nhưng vì mua nhầm thuốc nên uống vào bệnh của Liêm thêm nặng. Khi mẹ về thì đứa em trai ba tuổi của Hạnh đã qua đời ngay trên tay mẹ.

Mẹ Hạnh quá đau buồn, bỏ buôn bán, dắt díu chị em Hạnh về xin ở nhờ trên đất ông bà ngoại để lại cho người cậu út, nuôi lợn, nuôi gà, trồng cây để sống.

Ít lâu sau, người cậu cầm cố mảnh vườn này cho người khác, mẹ Hạnh phải bán cả tư trang để có tiền thuê lại, đầu tắt mặt tối nuôi hai con. Nợ nần chồng chất, lại thêm buôn bán thua lỗ, không thể sống ở quê được nữa, mẹ Hạnh đành dắt díu con sang Nam Vang (Phnôm Pênh, Campuchia bây giờ) theo một người quen đi bán hàng rong kiếm sống.

Ngày ngày, cô bé Hạnh đòn gánh trên vai, theo mẹ gánh cháo, gánh chè… dạo khắp các nẻo đường Nam Vang, rát họng rao mà cháo ế đằng cháo, chè ế đằng chè, cuối cùng đành bỏ nghề. Hạnh lại theo mẹ đi làm mướn, thực ra là đi làm ô-sin như cách gọi hiện nay, cho nhà một viên công chức người Pháp, có vợ là người Việt.

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, cha Hạnh được đón từ Côn Đảo về đất liền. Trước đó, nhờ sự giúp đỡ của một người bạn của cha, ba mẹ con Hạnh đã từ  Nam Vang trở về quê sinh sống. Cha Hạnh chỉ kịp về thăm vợ con được một ngày rồi lại lên đường công tác.

Năm 1946, Bác Tôn Đức Thắng trúng cử đại biểu Quốc hội Khóa đầu tiên, được Bác Hồ mời ra Hà Nội làm việc. Lúc này, Hạnh, Nghiêm đều đã tham gia công tác cách mạng, được theo cha ra Bắc.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, cả hai chị em lại theo cha lên chiến khu Việt Bắc, Hạnh làm văn thư, lưu trữ, còn Nghiêm là điện báo viên ở Văn phòng Trung ương.

Trong kháng chiến chống Pháp, Bác Tôn là Quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Thường trực Quốc Hội, Trưởng Ban Thi đua Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Liên Việt toàn quốc...

Tuy là con cán bộ cao cấp, nhưng Hạnh không có một đặc ân nào. Chị cũng phải trải qua những khó khăn, vất vả, thiếu thốn trên chiến khu như tất cả các cán bộ, chiến sĩ khác.

Năm 1948, chị và anh Dương Văn Phúc, người Hà Nội, cán bộ cơ yếu cùng Văn phòng Trung ương yêu nhau. Do công việc đòi hỏi, cả hai đều được điều động về tăng cường cho địa phương, anh đi Vĩnh Yên, còn chị bổ sung cho "Chính công đội" (Đội Công tác chính trị) ở vùng biên giới Quảng Ninh.

Chị lăn lộn dọc vùng biên giới Việt -Trung, ăn đói, mặc rét, bám từng làng bản của đồng bào người Hoa, vận động bà con tham gia kháng chiến và ủng hộ kháng chiến. Một lần khi vào bản vận động quần chúng ở Quảng Yên, chị bị địch phát hiện, bao vây, nổ súng, nhưng được đồng bào che chở nên may mắn thoát chết.

Năm 1950, gặp lại nhau sau mấy năm xa cách, hai người quyết định tổ chức lễ cưới.

Đám cưới con gái vị Trưởng ban Thường trực Quốc hội rất đơn giản, chỉ là một bữa cơm gia đình, có gà do em gái nuôi, có canh cải do tự tay cô dâu nấu, còn khách mời là một số người bạn thật đặc biệt của cha: Bác sĩ Trần Duy Hưng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ (sau này là Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội), cụ Linh mục Phạm Bá Trực, Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội, cụ Vi Văn Định, nhân sĩ trí thức, từng làm Tổng đốc dưới thời Pháp thuộc, bố vợ của ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên…

Món quà quý giá mà những người bạn của cha tặng trong ngày cưới là bốn vuông lụa nâu, không dễ gì kiếm được giữa núi rừng Việt Bắc xa xăm.

Ngày đi lấy chồng, không có mẹ ở bên, nhớ mẹ mà day dứt buồn. Ngày cha đưa hai chị em ra Bắc, mẹ vẫn còn trong quê, ít lâu sau mới biết tin mẹ thoát ly ra bưng biền tham gia kháng chiến.

Ơi những ngày khốn khó, đòn gánh cong lưng theo mẹ bán chè ở Nam Vang, sao bây giờ ngày vui của con mẹ lại không có mặt?… Mẹ ơi, nước mắt lưng tròng.

Lời dặn của cha

Sau năm 1954, vợ chồng chị Hạnh, chị Nghiêm cùng cha trở về Hà Nội. Mẹ Giàu cũng từ miền Nam tập kết ra Bắc, sum họp cùng chồng và các con.

Năm 1960, Bác Tôn Đức Thắng được Quốc hội cử giữ chức Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và năm 1969 là Chủ tịch nước.
Về thủ đô ở cùng cha mẹ, gia đình chị Hạnh, chị Nghiêm cũng chỉ có một phòng, diện tích không quá 20 mét vuông.

Ngày ở 35 Trần Phú, hai chị nhất định nhường cho gia đình ông Lê Hữu Lập, Thư ký riêng của cha, căn phòng rộng gần gấp đôi căn phòng của gia đình mình, vì "gia đình ông đông người hơn".

Thời bao cấp, mọi chế độ sinh hoạt đều được phân phối theo tiêu chuẩn tem phiếu. Ông Lê Hữu Lập, nhớ lại sinh hoạt của gia đình Bác Tôn và các con Bác thời đó. Sổ mua hàng của gia đình Bác Tôn mỗi năm chỉ một quyển mà nhiều trang còn bỏ trắng. Như mọi cán bộ, các con của Bác Tôn phải tự túc…

Chị Nghiêm phải xếp hàng hàng giờ để mua cân đường. Anh Trúc, chồng chị, Phó Tiến sĩ, Chủ nhiệm khoa Đại học Y, khoẻ mạnh chuyên đi xếp hàng từ thật sớm mua gạo, mua thực phẩm để kịp giờ đi làm…"

Sau mấy năm ở cùng, một hôm Bác Tôn nói với hai con:

- Ba bây giờ già rồi, chắc không sống được bao lâu nữa. Ngôi nhà này là dành cho Ba ở và làm việc. Khi Ba mất, các con không thể ở đây được. Vì thế, theo Ba, các con nên đề nghị cơ quan bố trí cho nơi ở mới, theo đúng tiêu chuẩn của Nhà nước đối với cán bộ, không nên đòi hỏi gì…

Trầm ngâm một lúc, Bác Tôn nói tiếp:

- Sau này, khi Ba mất, Ba có nguyện vọng như Bác Hồ là được hoả táng, không phải tổ chức lễ tang linh đình, tốn kém làm gì. Sau khi hoả táng, mỗi con giữ lấy một lọ tro của Ba là Ba vui lòng…

Ngày 30/3/1980 Chủ tịch Tôn Đức Thắng qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi. Trước đó, năm 1974 Bác Tôn gái cũng đã đi xa.

Ít năm sau khi cha mất, lần lượt vợ chồng em gái Tôn Thị Nghiêm cũng theo cha mẹ ra đi.

Suốt bao nhiêu năm qua, hình bóng của cha mẹ và vợ chồng người em gái vẫn hiển hiện hàng ngày trong cuộc sống của vợ chồng bà Tôn Thị Hạnh - Dương Văn Phúc.

Năm 2008, trước Tết ít ngày bà bị ngã, phải nằm một chỗ. Đến bây giờ bà vẫn nằm đó, 9 năm rồi bất động, không tự ăn được mà phải ăn qua ống xông. Ông Dương Văn Phúc, chồng bà cũng nằm một chỗ ở một phòng khác đã mấy năm rồi, chỉ có điều ông vẫn còn rất tỉnh táo khi trò chuyện cùng tôi. 

Trước khi chia tay, tôi nhờ con gái lớn của ông bà, cũng dã quá tuổi về hưu, chụp giúp tôi một tấm ảnh với cha cô, ông Dương Văn Phúc, một người anh, người thủ trưởng quý mến của tôi nay đã qua tuổi 90. Tôi cầu mong ông hồi phục sức khỏe để đón tuổi 95, 100 của mình!

Ra về, nhìn bà Tôn Thị Hạnh vẫn nằm một chỗ, tôi lại nghĩ, con gái của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, cũng có một cuộc đời vất vả, cuối đời mà vẫn đòn gánh lưng cong.  

Dương Đức Quảng