Điều giống và khác nhau ở 2 anh hùng đánh B52

Thứ hai, 15/01/2018 11:49:09 | Tinh Hoa Việt
Một thời tôi làm việc ở báo Quân đội nhân dân được quen biết và đã nghe câu chuyện do 2 anh hùng lực lượng vũ trang, Trung tướng Phan Thu, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Phó tư lệnh chính trị, Bí thư Đảng ủy Quân chủng Phòng không không quân kể  việc đánh B52 trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 ở Hà Nội. Giờ đã 45 năm trôi qua, mỗi khi đến dịp kỷ niệm trận “Điện Biên Phủ trên không” đài báo lại hay nhắc đến 2 người anh hùng tiêu biểu cho ý chí và trí tuệ Việt

Điều giống và khác nhau ở 2 anh hùng đánh B52

Trung tướng Phan Thu (trái) và Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt.

Trung tướng Phan Thu hơn Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt 7 tuổi, giờ hai vị  tướng đều đã ở tuổi ngoài 80, còn khỏe mạnh, minh mẫn. Trước thời điểm đánh B52, Thiếu tá Phan Thu là trưởng phòng Nghiên cứu khoa học kỹ thuật, Cục Kỹ thuật Quân chủng; còn Thượng úy Nguyễn Văn Phiệt là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261, Sư đoàn phòng không Hà Nội (F361). Nhiệm vụ chính của ông Phan Thu ở trên Quân chủng, là nghiên cứu cách chống nhiễu của máy bay địch; còn ông Nguyễn Văn Phiệt thì chỉ huy một đơn vị tên lửa phòng không, trực tiếp chiến đấu.

Ta biết rằng, B52 là con chủ bài ném bom chiến lược của không quân Mỹ, ngoài khả năng bay cao, bay xa, nó ẩn mình bằng hệ thống gây nhiễu rất hiện đại để radar đối phương khó phát hiện. Mỗi khi cất cánh nó còn được các máy bay tiêm kích như Con ma (F4); Thần sấm (F105) bảo vệ vòng ngoài và các loại máy bay này cũng có khả năng gây nhiễu. “SAM2” là theo cách gọi của phương Tây, chứ đúng xuất xứ tên lửa do Liên Xô chế tạo đều lấy tên một dòng sông nào đó, SAM2 nguyên bản là “Đờvina” tức sông Đơnhép. SAM2 dùng radar dẫn đường, phải làm sao để biết cách phát hiện đúng mục tiêu ẩn náu trong “đám rối bời” sóng nhiễu đó. Như thế, cuộc đối đầu lịch sử 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội, thực sự là một cuộc chiến tranh điện tử ở quy mô chiến dịch.

Trước yêu cầu chống lại cuộc chiến tranh điện tử của Mỹ, từ đầu năm 1967, Đội trinh sát nhiễu đã ra đời, do Trung úy, kỹ sư vô tuyến điện Phan Thu làm đội trưởng (Sau này ông có học hàm phó giáo sư), 3 năm sau Đội nhiễu phát triển thành Tiểu đoàn nhiễu, phiên hiệu là D8, Thượng úy Phan Thu là tiểu đoàn trưởng. Giữa năm 1967, máy bay Mỹ ném bom kho xăng Đức Giang (Hà Nội), Đội nhiễu đã thu được các tín hiệu nhiễu đầu tiên của địch, đo các dải tần nhiễu, đặc biệt là phát hiện được các dải tần nhiễu rãnh đạn tên lửa phòng không, giúp cho chuyên gia Liên Xô tìm ra nguyên nhân nhiễu của địch đã làm cho tên lửa ta mất điều khiển. Về chuyện tìm hiểu nhiễu, ông Phan Thu kể: “Ngày đó giống như phóng viên chiến trường, tôi và anh La Văn Sàng thường mang theo máy ảnh, máy quay phim chụp lại hoặc quay phim  màn hình các loại radar tên lửa phòng không trong chiến đấu. Đến đầu năm 1968, Đội nhiễu cơ động vào phục vụ sở chỉ huy tiền phương của Quân chủng đặt tại nông trường Đông Hiếu, Nghệ An.

Chúng tôi tham gia chiến đấu trong đội hình Trung đoàn tên lửa 236. Vào khoảng nửa đêm, có 2 máy bay A6E của hải quân Mỹ đi tìm và đánh các trận địa tên lửa của ta bằng tên lửa có cánh Shrike. Đài của ta phát sóng bắt được mục tiêu ở cự ly tương đối gần và phóng luôn 2 quả đạn. Tôi và anh Sàng thì  chụp trên màn hiện sóng của radar góc tà và góc phương vị trong suốt quá trình chiến đấu. Có một Shrike phóng tới trệch ra ngoài trận địa.Ta diệt được cả 2 máy bay địch. Đội nhiễu chúng tôi cũng thu được những hình ảnh nhiễu của địch làm cơ sở phân tích về sau, đặc biệt có một kiểu ảnh có tín hiệu phản xạ từ Shrike khi bắt đầu rời máy bay và phóng về phía ta.” 

Những “phóng viên chụp nhiễu” chụp được những bức ảnh chân thực, sau đó nghiên cứu tìm ra bản chất từng loại nhiễu, giải thích từng hình dạng nhiễu của địch trên từng radar cụ thể để có cách đối phó. Ngày đó, Đội nhiễu, rồi Tiểu đoàn nhiễu của ông Phan Thu đã thu thập được bộ ảnh nhiễu khá phong phú, cùng với việc soạn tài liệu phân tích các dạng sóng nhiễu trên màn hiện sóng của tên lửa SAM2, in thành nhiều bản gửi đến các tiểu đoàn, trung đoàn tên lửa làm tài liệu huấn luyện. Trong cuốn tài liệu tổng kết nhiễu và chống nhiễu 12 ngày đêm cuối năm 1972, do Trung tướng Phan Thu chủ biên đã phân tích rất rõ về chất nhiễu của B52, như: nhiễu B52 trong đội hình có cường độ nhiễu rất mạnh; nhiễu giả B52; nhiễu tiêu cực của máy bay F4E...

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt nhập ngũ tháng 2/1960, là chiến sĩ radar, rồi  thợ sửa chữa radar và cuối năm 1965 đi học chuyển loại tên lửa phòng không tại Liên Xô. Về nước, ông làm trưởng xe YA kiêm sĩ quan điều khiển tên lửa, từ năm 1969 làm đại đội trưởng, đến năm 1971 tiểu đoàn phó và giữa năm 1972 tiểu đoàn trưởng điều khiển tên lửa. Ông cho biết: “Ngày đó chúng tôi đang từ đơn vị pháo cao xạ được chuyển loại tên lửa SAM2. Chuyên gia Liên Xô huấn luyện về lý thuyết cũng như thực hành một cách kỹ càng. Có 2 phương pháp bắn, lấy chữ đầu phiên từ tiếng Nga sang, “T” là phương pháp bắn 3 điểm, khi đánh trong nhiễu không bắt được mục tiêu chỉ ước lượng cự ly và độ cao; còn “P” là phương pháp bắn đón nửa góc, khi nhìn thấy tín hiệu mục tiêu trên màn hiện sóng, như vậy đã xác định được cự ly và độ cao của máy bay rồi. Trước chiến dịch, dưới sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân chủng Phòng không-Không quân đã có nhiều hội thảo chuyên đề về cách đánh B52. Chẳng hạn, cuộc họp từ ngày 30/10 đến 3/11/1972 tại bộ chỉ huy Sư đoàn phòng không Hà Nội đóng tại Hòa Mục (Đống Đa, Hà Nội) do Tư lệnh quân chủng, Đại tá Lê Văn Tri chủ trì. Trong hội nghị, đã sôi nổi thảo luận xung quanh các vấn đề: phương pháp tổ chức chỉ huy; chọn dải nhiễu; chọn thời cơ phát sóng; cự ly phóng đạn... Sau hội nghị, Phòng Khoa học quân sự Quân chủng; Phòng Tác huấn Bộ Tổng tham mưu đã ban hành tài liệu “Cách đánh B52”. Việc cải tiến tên lửa SAM2 ngày đó cũng đã được tiến hành tới 3-4 lần.

Cụ thể là: tăng độ sát thương từ phía đầu quả tên lửa; kết cấu lại bộ càng kéo; thay đổi một vài bảng mạch điều khiển. SAM2 bắn hiệu quả ở 27 km; cự ly gần 7-12 km, xa nhất 34 km. Trước hết phải quan sát nhiễu trên màn hiện sóng cho tinh tường, chuẩn xác. Cuốn Cách đánh B52 đã chỉ ra khá rõ ràng, song chưa đủ, các đơn vị chiến đấu chúng tôi còn phải kịp thời rút kinh nghiệm sau từng trận đánh. Chẳng hạn, chúng tôi đã nhận biết một cách chắc chắn sự khác nhau giữa nhiễu B52, nhiễu máy bay tiêm kích bảo vệ vòng ngoài. Dải nhiễu B52 mịn, phẳng, thắt cổ bồng; còn nhiễu các máy bay chiến thuật thì đi như quấn thừng, không ổn định. Mỗi khi chúng tôi có động tác đánh lừa địch, phát sóng RPK giả thì nhiễu của các máy bay bảo vệ vòng ngoài nhấp nháy, chạy lung tung, còn của B52 vẫn ổn định, chạy thẳng vào. Việc chọn thời cơ bắn đón cũng là điều rất quan trọng... Những ngày mở đầu chiến dịch, sư đoàn tôi bắn nhiều mà hiệu quả diệt B52 còn thấp, sau đó rút kinh nghiệm kịp thời, có lúc bắn một quả hạ một B52, hạ tại chỗ. Rạng ngày 21-12 có ba tốp B52 đánh vào sân bay Gia Lâm, Trung đoàn ra lệnh tập trung hỏa lực của 4 tiểu đoàn, đã bắn cháy được mấy chiếc.

Đến khi cơ số đạn các tiểu đoàn bạn đã hết, tiểu đoàn tôi chỉ còn hai quả. Đúng lúc đó có 9 B52 từ hướng tây bắc lao vào. Thấy kíp trắc thủ vẫn luôn tinh tường bám sát tín hiệu B52, tôi ra lệnh cho sĩ quan điều khiển lần lượt phóng hai quả đạn, thế là hai B52 bốc cháy tại chỗ. Toàn chiến dịch bắn rơi 81 máy bay trong đó có 34 B52, riêng sư đoàn tôi bắn rơi 25 B52, trong đó 16 chiếc rơi tại chỗ; 9 máy bay chiến thuật thì có 2 chiếc rơi tại chỗ. Cả chiến dịch sử dụng hết 334 quả tên lửa, riêng Sư đoàn phòng không Hà Nội đã phóng lên 254 quả, đơn vị tôi 31 quả. Sau chiến dịch ta còn vài trăm quả SAM2 dự trữ nữa. Như thế cũng không phải là nhiều. Dù sao đến thời điểm đó cũng là kết thúc thế hệ SAM2, nó đã hoàn thành sứ mạng lịch sử một cách vẻ vang.”

Cũng cần nói thêm, Trung tướng Phan Thu được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang ngày 25/8/1970, tức là trước chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”; còn Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt do thành tích chiến đấu xuất sắc, được tuyên dương ngay sau chiến thắng lịch sử ấy.  

Phạm Quang Đẩu


 

Tin cùng chuyên mục

Tin mới