Hoàng đế Quang Trung: Bậc kỳ tài

Thứ hai, 19/02/2018 09:20:19 | Tinh Hoa Việt
Trong lịch sử dân tộc, hình ảnh những vị vua sáng nghiệp và rực rỡ với những bước ngoặt thúc đẩy tiến trình phát triển xã hội không nhiều. Hoàng đế Quang Trung là một người như vậy. Khởi nghĩa từ miền Tây Sơn, lần lượt đánh tan quân đội chúa Nguyễn ở phía Nam rồi ra Bắc phá tan cơ đồ chúa Trịnh tồn tại đã mấy trăm năm. Sau đó lại chóng vánh tiêu diệt đội quân ngoại bang Xiêm La và quân đội nhà Thanh. Rực rỡ với nhiều chiến công, thống nhất giang san một dải. Tiếc là triều đại Tây Sơn quá ngắn ng

Hoàng đế Quang Trung: Bậc kỳ tài

Vận hội thúc bách

Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của hoàng đế Quang Trung ta thấy chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi hơn 20 năm của lịch sử mà bao sự kiện dồn dập. Không xuất thân khoa bảng, không xuất thân võ tướng triều đình, chỉ là những người nông dân buôn bán, tụ nghĩa rồi phất cờ đứng lên. Lịch sử đã trao “con mắt xanh” cho vị thầy Trương Văn Hiến nhìn ra và đào tạo những con người thay đổi vận mệnh lịch sử. Thầy Trương Văn Hiến vốn là môn khách của Trương Văn Hạnh. Còn Trương Văn Hạnh lại là thầy dạy của Nguyễn Phúc Luân (cha của Nguyễn Ánh). Vì Trương Văn Hạnh bị Trương Phúc Loan hãm hại nên Trương Văn Hiến phải chạy vào Bình Định và tìm cách báo thù. Tương truyền, câu sấm: “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công” là của Trương Văn Hiến tạo ra cốt gây ảnh hưởng thần quyền cho ba anh em Tây Sơn. 

Không chỉ giỏi võ nghệ, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ còn sáng tạo ra phái võ của riêng mình. Nguyễn Huệ khai sáng Yến Phi quyền, Nguyễn Lữ khai sáng Hùng kê quyền và ba anh em cùng khai sáng Độc lư thương. Và sức mạnh của đội quân Tây Sơn dần dần trở nên mạnh mẽ ngoài việc giỏi võ nghệ còn là việc chế tạo ra những vũ khí tối tân hơn các đối thủ. Theo PGS. TS Đỗ Bang: “Chỉ riêng về trang bị, quân Tây Sơn đã đạt một trình độ kỹ thuật của tiêu chuẩn quốc tế mà các nước phương Đông, phương Tây hồi bấy giờ không thể so sánh kịp”. Ví như thuyền chiến Tây Sơn có thể chở được từ 700 đến 800 thủy thủ và mang được 60-70 đại bác. Trong khi thuyền chiến phương Tây trang bị cho Nguyễn Ánh chỉ được 200 người và 30 đại bác. Voi chiến Tây Sơn có thể chở 13 người và mang theo đại bác. 

Năm 1771, đánh dấu mốc cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bắt đầu với danh nghĩa diệt trừ quyền thần Trương Phúc Loan, phò giúp chúa Nguyễn Phúc Dương. Ngay từ ban đầu, anh em Tây Sơn đã có những võ tướng giỏi như: Nguyễn Thung, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Võ Văn Dũng, Võ Đình Tú, Trương Mỹ Ngọc, Võ Xuân Hoài. Từ căn cứ địa Tây Sơn Bình Định, chỉ trong hai năm, nghĩa quân Tây Sơn đã làm chủ dải đất dài từ Quảng Ngãi tới Bình Thuận. Năm 1776, Nguyễn Nhạc xưng Tây Sơn Vương. Và chỉ trong vòng 7 tháng của năm 1777, quân Tây Sơn đã tiêu diệt cả hai chúa Nguyễn. Năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi xưng đế, đặt niên hiệu là Thái Đức.

Nguyễn Ánh bị thua trận nhiều lần nên cầu cứu Pháp. Quân Pháp bị thua trận. Nguyễn Ánh tiếp tục cầu cứu quân Xiêm. Và trong đêm 19 rạng 20 tháng 1 năm 1785 (đêm 9 rạng 10 tháng 12 năm Giáp Thìn), 20 vạn quân Xiêm đã bị đánh tơi bời trong trận đánh Rạch Gầm – Xoài Mút. 

Đánh xong trận Rạch Gầm – Xoài Mút, Nguyễn Huệ ngay lập tức quay lại phía Bắc đánh chiếm Phú Xuân. Rồi theo mưu kế của Nguyễn Hữu Chỉnh tiến quân ra Bắc. Chỉ trong mấy tháng sau trận Rạch Gầm – Xoài Mút mà các thành lũy của vua Lê chúa Trịnh trải dài từ Phú Xuân ra Thăng Long đều bị đánh tan, cơ đồ hơn 200 năm của nhà Trịnh tan thành mây khói. 

Cũng ngay trong năm 1787, Nguyễn Huệ từ Thăng Long quay ngay vào Nam đánh chúa Nguyễn Ánh. Rồi lại quay ra Bắc dẹp nạn Vũ Văn Nhậm phản bội. Xong việc, Nguyễn Huệ giao quyền cho Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm ở lại giữ Bắc Hà vì vua Lê Chiêu Thống đã bỏ chạy sang cầu viện nhà Thanh để quay lại Phú Xuân. 

Tháng 10/1788, vua Lê Chiêu Thống theo quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy rầm rộ kéo quân sang. Lúc này, cả hai mặt trận Nam – Bắc đều thúc bách và cần tới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ. Tính toán nhanh, Nguyễn Huệ quyết định thần tốc cất quân ra Bắc và dẹp tan đội quân 20 vạn nhà Thanh một cách chóng vánh sau đó sẽ quay lại phía Nam để đánh chúa Nguyễn. Để có tính chính danh, tháng 12-1788, Nguyễn Huệ ngay lập tức làm lễ lên ngôi hoàng đế tại Phú Xuân. Sau đó kéo quân ra Bắc. Ngày 20 tháng 12 năm Mậu Thân (tức 15-1-1889), đại quân của Quang Trung đã ra đến Tam Điệp. Sau khi vạch rõ kế sách, Quang Trung chia quân làm 5 đạo rồi quả quyết ngày 7 sẽ ăn Tết tại Thăng Long. Thật không ngờ kế hoạch lại thành công trước 2 ngày dự kiến. Thực là phi thường.

Sau khi đánh tan quân Thanh, hoàng đế Quang Trung bắt tay kiến tạo đất nước. 

Hoài bão lớn

Vừa qua, có báo viết và đưa ra hình ảnh trái ngược hẳn với tâm niệm của số đông người dân về chân dung hoàng đế Quang Trung. Tuy nhiên đó không phải là chân dung của vua Quang Trung. Đó là vua nhà Thanh nhưng người viết nhầm vì không đọc kỹ dòng lạc khoản bức tranh. Hình ảnh được truyền tụng là chân dung hoàng đế Quang Trung xưa nay dù tướng mạo khá đẹp nhưng cũng không phải là thật, chỉ đơn giản là người sang Trung Hoa theo lời mời của vua Càn Long nhà Thanh là giả vương Phạm Văn Trị. 

Thần thái vua Quang Trung ít nhiều được tả trong Hoàng Lê nhất thống chí của những quan đại thần triều Lê nhưng cũng toát lên sự quả quyết và uy nghiêm của Nguyễn Huệ. 

Một con người kỳ vĩ như Quang Trung, nằm trong bối cảnh lịch sử xã hội phong kiến lúc bấy giờ tất nhiên không thể có thể chế nào khác ngoài chế độ quân chủ phong kiến. Tuy nhiên, tư tưởng của Quang Trung rất cải tiến so với các vị vua khác. Cũng đề cao việc học, nhưng chỉ đạo của Quang Trung thật cụ thể và thiết thực. Đầu tiên là việc quyết định dùng chữ Nôm thay cho chữ Hán. Các văn bản hành chính như chiếu, chỉ đều sử dụng chữ Nôm. Các kỳ thi đều dùng chữ Nôm. Để chữ Nôm được phổ biến, năm 1791, Quang Trung đã cho lập Sùng chính viện để dịch kinh sách từ Hán sang Nôm. Và việc học từ nhà vua cho đến dân thường. Bản thân nhà vua thì 5 ngày học kinh sách một lần theo sự chỉ dạy của quan văn. Còn trong thôn xã, trong Chiếu lập học ông ra lệnh: “Phải chọn Nho sĩ bản địa có học thức, có hạnh kiểm đặt làm thầy dạy, giảng tập cho học trò”. Những cải cách này không được lòng nhiều nhà nho vốn quen lối cũ. Cùng với việc lập học, hoàng đế Quang Trung còn xuống chiếu cầu hiền. Và khi đã chọn được người hiền tài thì cũng trọng dụng dù đó là quan lại nhà Lê – Trịnh. Việc dùng kẻ sĩ của vua Quang Trung nổi tiếng ngay từ khi ông dùng Ngô Thì Nhậm lúc đánh quân Thanh: “Phải phiền ông làm một bài thơ đuổi giặc. Nếu không được thì túi dao, bao kiếm là phận sự của kẻ võ thần”. Và ngay khi vừa đánh tan quân Thanh năm 1789, Quang Trung đã cho tổ chức kỳ thi hương ở Nghệ An để tuyển chọn nhân tài do Nguyễn Thiếp làm chánh chủ khảo.

Về luật pháp, buổi đầu hoàng đế Quang Trung cho áp dụng chế độ quân chính rất nghiêm khắc. Đó là công việc tức thời trong bối cảnh đất nước nội loạn, ngoại xâm. Pháp lệnh chưa được lập, nên mọi việc thưa kiện đều do các quan và nhà vua xử. Ngay cả Bắc cung hoàng hậu Ngọc Hân, cũng chịu hình phạt như người dân. Theo PGS. TS Đỗ Bang: Hoàng hậu Ngọc Hân cũng có lần bị phạt đánh 20 đòn về tội bao che cho thân mẫu (vợ vua Lê Hiển Tông) vì thân mẫu đã xin tha cho các quan lại nhà Lê bất phục Tây Sơn. Tuy nhiên, nhận thấy tính cấp thiết của việc phải có ngay bộ luật, nên hoàng đế Quang Trung đã sai soạn ngay trong hai tháng. Tuy đến nay bộ luật này không còn (có lẽ do bị nhà Nguyễn tiêu hủy) nhưng từ năm 1793 đã được những thương nhân nước ngoài quan tâm và dịch ra tiếng Pháp. 

Việc buôn bán hay truyền giáo của người nước ngoài được hoàng đế Quang Trung cho phép. Điều này trái ngược hẳn với nhà Nguyễn sau đó. Nhà Tây Sơn còn chủ động mời cả thương nhân châu Âu đến buôn bán. 

Hoàng đế Quang Trung chủ trương hòa hoãn với nhà Thanh để xây dựng lực lượng lớn mạnh thêm. Ông sai Đại tướng Võ Văn Dũng đi sứ nhà Thanh cầu hôn công chúa nhà Thanh và xin hai vùng lưỡng Quảng (Quảng Châu, Quảng Tây). Vua nhà Thanh ưng thuận gả công chúa và cho một tỉnh Quảng Tây. 

Trong khi công cuộc thống nhất và dựng nước đang tiến triển thì đột nhiên hoàng đế Quang Trung băng hà. Và chưa bao giờ lịch sử dân tộc chứng kiến sự kỳ vĩ của một cá nhân ảnh hưởng đến sự tồn vong của một vương triều như thế. Sau khi Quang Trung mất, chỉ trong một thời gian ngắn nhà Tây Sơn bị đánh bại và chúa Nguyễn lên ngôi.  

Từ Khôi

Tin cùng chuyên mục

Tin mới