Những vị tướng Tây Nguyên

Chủ nhật, 05/05/2019 09:15:29 | Tinh Hoa Việt
Trở lại chiến dịch Plây Me, quyết tâm của tướng Chu Huy Mân cũng như tài thao lược của ông thể hiện rất rõ cách bố trí lực lượng ta ở thung lũng Ia Đrăng dưới chân núi Chư Pông. Đồng chí dự đoán khi bị đánh, thế nào quân Mỹ cũng đổ quân xuống chiếm điểm cao Chư Pông…

Những vị tướng Tây Nguyên

Đại tướng Chu Huy Mân.

Đại tướng Chu Huy Mân - Tướng Hai Mạnh

Đại tướng Chu Huy Mân sinh ngày 17/3/1913 tại xã Hưng Hóa, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Đầu tháng 9-1965, ông được điều từ Quân khu 5 lên Mặt trận Tây Nguyên, giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy, hai trọng trách quân sự và chính trị, nên ông được Bác Hồ khen là “Hai Mạnh”.

Vào thời điểm này, Sư đoàn Kỵ binh không vận số 1 Mỹ cũng đã hoàn thành việc đưa quân lên Tây Nguyên, Bộ Tư lệnh Sư đoàn đứng chân tại An Khê. Việc các lực lượng vũ trang Tây Nguyên phải đương đầu với sư đoàn thiện chiến bậc nhất của Mỹ, thì cường độ ác liệt do pháo binh và hỏa lực từ máy bay sẽ gia tăng gấp bội. Trước khi ta mở chiến dịch Plây Me, trong cuộc họp Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên, đồng chí Chu Huy Mân xác định: “Trước hết phải dám đánh Mỹ, cứ đánh khắc tìm ra cách thắng chúng”. Quyết tâm của đồng chí đã truyền đến từng cán bộ chiến sĩ một tinh thần thép. Ông lại nói: “Ưu thế chính trị tinh thần đã có sẵn trong bộ đội ta, vấn đề còn lại là làm thế nào để phát huy được ưu thế ấy”. 

Khi trao đổi với đồng chí Đặng Vũ Hiệp - Chính ủy Tiền phương Mặt trận Tây Nguyên trong chiến dịch Play Me, đồng chí Chu Huy Mân đã nhắc đến người tiểu đội trưởng thuộc Trung đoàn 1 Quân khu 5 đánh trận Vinh Huy gần thị xã Tam Kỳ đầu năm 1965. Khi truy kích quân Mỹ, người tiểu đội trưởng có một khẩu lệnh rất hay: “Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”. Ông đã điện báo cáo Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Bí thư Trung ương Cục miền Nam - nghe xong đồng chí Nguyễn Chí Thanh reo lên: “Hay quá anh Mân ơi, đây không còn là khẩu lệnh của một Trung đoàn, một Quân khu, nó là phương châm đánh Mỹ của toàn Miền rồi”. Từ đó “Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh” đã trở thành phương châm xuyên suốt cả cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam... 

Trở lại chiến dịch Plây Me, quyết tâm của tướng Chu Huy Mân cũng như tài thao lược của ông thể hiện rất rõ cách bố trí lực lượng ta ở thung lũng Ia Đrăng dưới chân núi Chư Pông. Đồng chí dự đoán khi bị đánh, thế nào quân Mỹ cũng đổ quân xuống chiếm điểm cao Chư Pông… Khi tiễn đồng chí Tư lệnh Nguyễn Hữu An và đồng chí Chính ủy Tiền phương Đặng Vũ Hiệp, đồng chí Chu Huy Mân nắm chặt tay hai người, dằn từng tiếng: “Máu xương và sinh mạng chiến sĩ là vô giá, nhưng khi cần thiết vẫn phải hy sinh để giành thắng lợi. Trong trận này dù phải một đổi một cũng kiên quyết phải đánh thắng. Phải diệt gọn tiểu đoàn Mỹ”. 

Đúng như dự kiến của Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận Chu Huy Mân, từ 14 đến 17/11/1965, tại thung lũng Ia Đrăng dưới chân núi Chư Pông, nhiều trận đánh giữa quân ta và lính sư đoàn Kỵ binh không vận Mỹ diễn ra quyết liệt. Bộ đội ta bám sát quân Mỹ, không cho chúng phân tuyến để phát huy hỏa lực sát thương ta. Nhiều trận đánh bộ đội dùng lưỡi lê báng súng diệt Mỹ, chúng rất khiếp đảm. Kết quả ta đã diệt gọn 1 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng lữ 3 sư đoàn Kỵ binh không vận số 1 Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.000 tên. Đây là lần đầu tiên quân Mỹ tham chiến ở Tây Nguyên và cũng là lần đầu tiên chúng phải rút chạy.

Sau một năm đánh Mỹ, Tướng Chu Huy Mân đã phát hiện ra quy luật phản kích chiến dịch của chúng và ông biết lợi dụng quy luật đó để đánh chúng. Mùa khô năm 1966, dựa vào khả năng cơ động của Mỹ, ông kéo chúng vào khu vực sông Sa Thầy và cho rằng, chọn nơi đây mở chiến dịch, ta hạn chế được sức cơ động bằng cơ giới và các loại binh khí kỹ thuật của Mỹ. Với địa hình rừng núi, xa căn cứ xuất phát hành quân, lại bị rừng rậm và sông suối bao bọc, quân Mỹ dễ rơi vào thế trận bị chia cắt, cô lập. Đối với ta, đây là vùng căn cứ, bộ đội quen địa hình, thuận lợi cho việc tiêp tế, vận chuyển. Phương thức tiến hành là "vây điểm diệt viện". Ta bao vây đồn Play Gi Răng và làm hai cầu treo trên sông Pô Cô để nghi binh, dụ sư đoàn 4 Mỹ. Bị mắc lừa, quân Mỹ dùng máy bay B52 ném bom rải thảm khu vực cầu treo và mở cuộc hành quân vào đông và tây sông Sa Thầy, chúng đổ 1 tiểu đoàn bộ binh và 2 đại đội pháo thuộc sư đoàn 4 Mỹ đúng vào bãi C1. Tiểu đoàn cối 120 ly của ta bố trí sẵn trước ngày chiến dịch mở, do chuẩn bị sẵn nên bắn trúng đội hình quân Mỹ. Kho đạn bốc cháy, nổ tung, hàng trăm lính Mỹ bị diệt. Hôm sau, dưới sự chi viện của không quân, một đại đôi quân Mỹ nhảy xuống nhặt xác đồng bọn rồi vội vã rút khỏi bãi C1...

Những vị tướng Tây Nguyên

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo - Vị tướng mưu kế thế trận

Thượng tướng, Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hoàng Minh Thảo tên thật là Tạ Thái An, sinh năm 1921, ở xã Bảo Khê, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Ông từng là học trò của thầy giáo Võ Nguyên Giáp ở trường Thăng Long (Hà Nội) và tham gia cách mạng từ những ngày sục sôi của phong trào Bình dân vào cuối thập niên 30 thế kỷ XX. Ông bị thực dân Pháp lùng bắt, phải rời bỏ quê hương lên vùng rừng núi Tràng Định, Lạng Sơn. Đến đây ông đổi tên Hoàng Minh Thảo…

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo không chỉ đứng trên bục giảng, mà uy tín học thuật của ông còn được đúc kết từ thực tiễn chiến đấu ác liệt ở chiến trường. Tháng 11/1967, Hoàng Minh Thảo được Quân ủy Trung ương điều vào Tây Nguyên, giữ chức Tư lệnh Mặt trận, thay đồng chí Chu Huy Mân về Quân khu 5, tại đó, ông tỏ rõ trí thông minh trong việc dùng mưu kế, thế trận lừa quân Mỹ vào nơi ta chuẩn bị sẵn để đánh chúng. Chiến dịch Đắk Tô 1967 là kết quả của việc dùng mưu dùng kế đánh quân Mỹ. Chiến dịch này ta đã diệt gần hết lữ dù 173 Mỹ. 

Trong chiến dịch Đắk Tô -Tân Cảnh 4/1972, lần đầu tiên ở chiến trường Tây Nguyên ta hợp đồng binh chủng bộ binh, pháo binh mặt đất, pháo phòng không, xe tăng... đánh vào tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Bắc Tây Nguyên. Mọi người trong Sở chỉ huy thấy năm ngày đêm liền Tư lệnh Hoàng Minh Thảo không tháo giầy khỏi chân. Chỉ đến khi nghe tin quân ta đã làm chủ hoàn toàn tập đoàn phòng ngự Đắk Tô -Tân Cảnh, bắt hơn 1.000 tù binh trong đó có viên đại tá Sư đoàn trưởng sư đoàn 22 ngụy Vi Văn Bình, lúc đó ông mới tháo giầy. 

Chiến dịch Tây Nguyên tháng 3/1975, Hoàng Minh Thảo làm Tư lệnh, ông đã đánh lừa cả bộ máy chiến tranh khổng lồ của Mỹ - ngụy, hút chúng về Bắc Tây Nguyên, rồi ta bất ngờ tiến công giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, nơi địch yếu nhất, buộc địch rút lui chiến lược, tạo bước ngoặt quyết định cho cuộc chiến tranh giải phóng, để ta tiến hành chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. 

Trong cuộc đời và sự nghiệp của mình, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã để lại cho đất nước, quân đội ta một kho tàng kiến thức quân sự đồ sộ với gần 100 đầu sách. Về cách dùng binh, ông viết:

“Mưu cao nhất là mưu lừa địch,
Kế hay nhất là kế điều địch,
Lừa địch là tạo ra bất ngờ,
Điều địch là giành được chủ động,
Bất ngờ và chủ động là mạch sống của tác chiến”...

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo còn thông tỏ những lời dạy của Bác Hồ “Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm,Trung” về đạo làm tướng. Trong cuốn “Về cách dùng binh”, ông viết: “Tướng lãnh đạo chiến tranh phải giỏi cả quân sự, chính trị, kinh tế”, “Tướng quốc phải là người văn võ song toàn”, “Tướng của dân là phải trọng đức độ, tài năng hơn là tiền tài danh vọng, trọng trí tuệ hơn giầu sang”,  "Tướng hiền từ đức độ thì mới thu hút được hiền tài và sống mãi trong lòng dân, lòng quân”.

Những vị tướng Tây Nguyên

Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp.

Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp - Vị tướng tài năng và đức độ

Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp đến chiến trường Tây Nguyên vào đầu tháng 9-1965 cùng đồng chí Chu Huy Mân. Khi Chu Huy Mân làm tư lệnh kiêm Chính ủy thì Đặng Vũ Hiệp làm Chủ nhiệm Chính trị và nhiều lần được giao làm Chính ủy Tiền phương Mặt trận. Ông đi sát bộ đội, đồng cam cộng khổ với họ. Trong con mắt của ông: “Tất cả mọi chiến thắng ở chiến trường, mọi kỳ tích anh hùng, trước hết và trực tiếp đều do những người chiến sĩ binh nhất binh nhì, những cán bộ phân đội làm nên”. Ông sinh hoạt cùng anh em, hành quân trèo đèo lội suối cùng với những người lính của mình. Bữa cơm của ông cũng đạm bạc như những người lính ở chiến trường. Chế độ bồi dưỡng của người chỉ huy có khác hơn chăng ở mấy hộp sữa cân đường và mấy hộp đạn thể thao, người cần vụ nhận số đạn thể thao ấy vào rừng săn chim thú để cải thiện bữa ăn cho người chỉ huy - chỉ có vậy thôi. Nhưng hầu hết số đường sữa ông để dành không ăn, mỗi lần đến thăm đơn vị, thấy ai đau ốm, sốt rét hay bị thương nặng, ông đều sai cần vụ lấy phần đường sữa của mình nhường anh em. Thời gian giữ chốt chống địch lấn chiếm ở bắc Kon Tum giữa năm 1973, đích thân ông Hiệp ra chốt 601 của Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 28 nằm ngủ một đêm cùng với bộ đội. Anh em còn nhớ mãi đến tận bây giờ. Những hành động dũng cảm, ân cần đầy tình thương của ông  khiến cho cán bộ chiến sĩ hết mực yêu quý mến phục người Chính ủy của mình.

Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp còn thể hiện toàn diện bản lĩnh và nhạy bén về chính trị của một chính ủy, đồng thời cũng là một nhà quân sự tài năng qua các chiến dịch, ý kiến của ông là một phần quan trọng trong quyết tâm của Thường vụ và Bộ Tư lệnh. Trong quá trình chuẩn bị chiến dịch Tây Nguyên tháng 3-1975, có nhiều ý kiến khác nhau khi thực hành đánh vào thị xã Buôn Ma Thuột, cơ quan tham mưu chiến dịch sốt ruột khi chưa có kết luận của người lãnh đạo chỉ huy cao nhất. Hiểu được sự sốt ruột của cơ quan, Chính ủy chiến dịch Đặng Vũ Hiệp nói: “Chiến dịch này hệ trọng lắm, không những chỉ cho chiến trường Tây Nguyên mà cho cả toàn Miền, không thể vội được. Kết luận thì dễ, nhưng làm sao trên dưới hoàn toàn nhất trí với nhau thì khi tiến hành mới thành hiện thực... Tuy có chậm một chút nhưng lại chắc thắng, cơ quan có vất vả hơn nhưng thắng lợi lớn hơn, đó mới là quyết tâm chính xác nhất, chín chắn nhất”. Những kết luận của Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh, trong đó có ý kiến của đồng chí Đặng Vũ Hiệp, được toàn chiến dịch đồng tâm thực hiện, đem lại thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của chiến dịch Tây Nguyên 3-1975, làm thay đổi cục diện chiến trường, buộc kẻ địch sụp đổ nhanh chóng.

Những vị tướng Tây Nguyên

Tư lệnh Vũ Lăng.

Tư lệnh Vũ Lăng chiến đấu giỏi, nghiên cứu tài

Vũ Lăng là một vị tướng trận mạc giỏi và tham mưu sắc sảo của Tổng Hành dinh trong kháng chiến chống Mỹ. Ông còn là một nhà nghiên cứu khoa học quân sự tài năng. Cách mạng Tháng Tám thành công, Vũ Lăng là một trong những chiến sĩ Nam tiến đầu tiên chiến đấu ở mặt trận Nha Trang - Ninh Hòa…. 

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi chiến đấu ở đồi C1, ông chỉ huy Trung đoàn 98, Đại đoàn 316 từ chiến hào xông lên đánh giáp lá cà với quân Pháp. Tiếng thét xung phong của ông đã khiến cho viên chỉ huy Pháp khựng lại, tạo điều kiện cho quân ta xông lên tiêu diệt quân địch, góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, trên các cương vị công tác khác nhau, lúc ở cơ quan tham mưu chiến lược, khi ở các Bộ Tư lệnh chiến trường, ông luôn thể hiện là một cán bộ có năng lực, tư duy, sáng tạo, nhạy bén trong tổ chức chỉ huy và quyết đoán, dám chịu trách nhiệm cao trước tập thể và cấp trên. Cuối năm 1967 ông được điều về Bộ Tổng tham mưu giữ chức Cục phó rồi Cục trưởng Cục Tác chiến. Với tư duy khoa học và dày dạn kinh nghiệm, Vũ Lăng có những đóng góp to lớn trong quá trình xây dựng các phương án tác chiến của quân đội ta trên cả hai miền Nam Bắc.

Đầu năm 1974, Vũ Lăng được cử vào Tây Nguyên giữ chức Tư lệnh Mặt trận. Với cương vị Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu, Vũ Lăng nắm chắc ý định của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, nay lại được sát mặt trận, ông đã đề xuất nhiều ý kiến với Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh về xây dựng phương án đánh trận then chốt Buôn Ma Thuột. Cùng Tham mưu trưởng chiến dịch Nguyễn Quốc Thước và Trưởng phòng Tác chiến Khuất Duy Tiến ngày đêm chụm đầu vào tấm bản đồ, ông nói: “Ta phải tìm mọi cách nhử địch lên Kon Tum và Plây Ku để hãm chúng ở đó.  Buôn Ma Thuột sơ hở, ta đột phá thật nhanh vào đó tiêu diệt địch làm chủ thị xã này”. Tướng Lăng giao cho Trưởng phòng Tác chiến Khuất Duy Tiến nghiên cứu đề xuất phương án đánh thị xã Buôn Ma Thuột. Một là đánh địch không có phòng ngự dự phòng, phương án nữa là đánh địch có phòng ngự dự phòng. Điều mấu chốt nữa là làm sao hút và giữ được chủ lực địch ở Plây Ku và Kon Tum làm cho chúng tin rằng mùa khô năm 1975 ta vẫn đánh Kon Tum và Plây Ku. Kế hoạch nghi binh của ta là khi Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 cơ động về phía Nam thì toàn bộ hệ thống thông tin, đường dây và vô tuyến 15W với các báo vụ viên làm việc lâu nay vẫn để nguyên và giữ chế độ làm việc hàng ngày như thường lệ... Sau này, cố vấn của Nguyễn Văn Thiệu, tướng Mỹ Sác-lơ Ti-mét phải thốt lên: “Bằng biện pháp nghi binh qua làn sóng điện, Việt cộng đã thành công trong kế hoạch giam chân lực lượng chủ yếu của quân lực Việt Nam Cộng hòa ở Plây Ku và Kon Tum”. Để địch bị ấn tượng vào khả năng ta đánh Plây Ku, Tư lệnh Vũ Lăng cho Sư đoàn 968 từ Hạ Lào sang thay Sư đoàn 320 tiến công Thanh An, chiếm bàn đạp áp sát thị xã và cho pháo Đ74 bắn vào Quân đoàn bộ Quân đoàn 2 ở Plây Ku. Về công tác chuẩn bị chiến trường, Tư lệnh Vũ Lăng quyết định vào tận hàng rào Đức Lập quan sát. Mọi người ngăn ông không nên đi, ông nói: “Vấn đề đánh Đức Lập chỉ cho phép Trung đoàn 66 đánh trong 1 ngày 1 đêm phải dứt điểm. Đánh thắng, nhưng thương vong ít, để Trung đoàn về làm dự bị cho chiến dịch. Mình không đi không an tâm”. Nói rồi ông đưa khẩu súng ngắn cho đồng chí công vụ và bò vào hàng rào - một Tư lệnh chiến trường đi trinh sát thực địa! Diễn biến chiến dịch Tây Nguyên đúng như dự kiến của Tướng Vũ Lăng.

Những vị tướng Tây Nguyên

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước.

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước nổi danh chiến trường, nổi danh nghị trường

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước vào Tây Nguyên từ tháng 6/1965 với cương vị Phó ban Tác chiến mặt trận. Sau Tết Mậu Thân 1968 ông được điều về làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 24, chỉ huy đơn vị chủ lực này đánh cắt giao thông trên đoạn đường 14 Chư Pao - Chư Thoi, diệt nhiều đoàn xe địch. Tháng 4/1970, Trung đoàn 24 phối hợp với bộ đội Pa Thét Lào mở cuộc tiến công giải phóng thị xã A Tô Pư. Dưới sự chỉ huy của ông sau khi A Tô Pư giải phóng, ông cho bộ đội phát triển giải phóng một vùng rộng lớn cao nguyên Pô Lô Ven. Tháng 5/1970 Trung đoàn được lệnh đánh địch vùng Đông Bắc Campuchia, tiến vào giải phóng Xiên Phạng, sau đó phối hợp với lực lượng Miền giải phóng tỉnh STung Treng rồi tiếp tục giải phóng thị trấn Tha La Bo Ri Vát, Chép, Chây Xen, Cho Am Xan... Tháng 8/1970 Nguyễn Quốc Thước trở lại Bộ Tham mưu Mặt trận, ít lâu sau lại được điều về làm Trung đoàn trưởng trung đoàn 28, chỉ huy Trung đoàn sang cao nguyên Pô Lô Ven chiến đấu với quân ngụy Lào, Thái Lan, giải phóng một vùng cao nguyên rộng lớn nối Pô Lô Ven với Xa La Van. 

Trong chiến dịch Đắk Tô - Tân Cảnh đầu năm 1972, Trung đoàn 28 của Nguyễn Quốc Thước được giao nhiệm vụ đánh cắt giao thông đoạn Diên Bình -Võ Định, tiêu diệt hàng trăm tên địch, bắn cháy hàng chục xe tăng, xe bọc thép và xe quân sự các loại, cắt đứt hoàn toàn con đường 14 nối Kon Tum với Tân Cảnh, tạo thuận lợi cho các đơn vị đột phá căn cứ Tân Cảnh thắng lợi. Địch dùng máy bay pháo binh đánh phá ác liệt vào đội hình quân ta, hầm của ông bị bom sập, anh em đào bới hồi lâu mới đưa được ông lên. Sức ép bom làm Nguyễn Quốc Thước chảy máu mũi, máu tai và chấn thương sọ não. Quân y đưa ông về phía sau, ông nhất định không chịu, tiếp tục ở lại chỉ huy trung đoàn chiến đấu (Nguyễn Quốc Thước giám định thương tật 49%).

Cuối năm 1972 ông được điều về giữ chức Tham mưu phó Mặt trận, rồi Tham mưu trưởng chiến dịch Tây Nguyên đến cuối 1974 thì được Bộ Tư lệnh Mặt trận cử ra Hà Nội nhận nhiệm vụ ở Bộ Tổng tham mưu. Ông báo cáo tình hình Tây Nguyên và nhận nhiệm vụ của Bộ do Đại tướng Văn Tiến Dũng trực tiếp giao cho chiến trường. Ông còn được gặp và nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp dặn: “Việc đầu tiên là tình huống nào cũng phải tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, sẵn sàng lực lượng mạnh dạn phát triển khi có thời cơ. Chú ý đánh Đức Lập nhanh gọn và có kế hoạch đánh viện cho tốt". Những ý kiến của hai vị Đại tướng được Nguyễn Quốc Thước truyền đạt chi tiết với Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận. Ông trực tiếp lên phương án tác chiến chiến dịch, công tác nghi binh hút địch về phía bắc Tây Nguyên để phía Nam sơ hở, ta giáng đòn bất ngờ, tiêu diệt sư đoàn 23 ngụy, giải phóng Buôn Ma Thuột, tạo đột biến về chiến lược… 

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước được bầu vào Quốc hội khóa 8-9-10. Suốt trong 3 khóa làm đại biểu Quốc hội (15 năm, từ 1997 đến 2002), tên ông đứng đầu trong danh xưng "Tứ nghị", đó là “Nhất Thước, nhì Trân, tam Lân, tứ Quốc” (Nguyễn Quốc Thước, Nguyễn Ngọc Trân, Nguyễn Lân Dũng, Dương Trung Quốc). Danh xưng ấy ông Thước chẳng biết từ đâu ra. Có lần Bộ chủ quản trình Quốc hội đề án cải tạo cảng biển dùng hàng chục tấn bộc phá để làm, ông nghị Thước kiên quyết bác bỏ phương pháp này. Ông cho rằng nếu dùng phương pháp này để cải tạo cảng biển thì dứt khoát tác động tiêu cực rất lớn đến môi trường, phá vỡ môi trường sinh thái biển nên Bộ chủ quản và chủ đầu tư phải đề xuất phương án khác để bảo vệ môi trường. Cử tri cả nước rất ấn tượng với đại biểu xứ Nghệ qua những phát biểu tâm huyết thẳng băng, có người gọi ông là "Nghị Thép", hay "châm ngòi" cho những phiên chấp vấn. Ông kể về một kỷ niệm tại một phiên họp ở tổ của nhiệm kỳ đầu tiên mà ông tham gia. Ông Đỗ Mười là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) than phiền: “Tôi làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng mà nói Bộ trưởng không nghe”. Nghe ông Đỗ Mười nói vậy, ông Thước đứng lên nói luôn: “Thưa anh Mười, tôi làm Tư lệnh Quân khu mà nói Sư đoàn trưởng không nghe thì tôi đình chỉ chức vụ. Một là tôi nghỉ, hai là đồng chí phải nghỉ. Anh nên cách chức Bộ trưởng không nghe ngay đi, nếu không cách chức được thì anh nên từ chức”. Sau cuộc họp ông Đỗ Mười gặp Nguyễn Quốc Thước vỗ vai cười hề hà và nói: “Cậu này được đấy”!  

Lê Hải Triều

Tin cùng chuyên mục

Tin mới