Quyết đấu trên biển

Thứ tư, 21/02/2018 08:35:36 | Tinh Hoa Việt
LTS: Thiếu tướng Trần Tử Bình (1907-1967) là một trong những vị tướng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ông là người lãnh đạo phong trào công nhân cao su Phú Riềng 1930, một trong những nhà lãnh đạo của Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội tại cuộc khởi nghĩa tháng 8 năm 1945.

Quyết đấu trên biển

Thiếu tướng Trần Tử Bình.

Sau Cách mạng tháng Tám ông giữ nhiều chức vụ của quân đội và Nhà nước như Phó giám đốc chính ủy Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (1946), Phó Bí thư Quân Ủy Trung ương (1947), Chính ủy trường Lục quân tại Trung Quốc (1950-1956), Tổng Thanh tra Quân đội kiêm Phó Tổng thanh tra Chính phủ (1956-1958), Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1959-1967).

Dưới đây chúng tôi xin trích giới thiệu một phần trong cuốn sách viết về cha đang được người con trai út là tác giả Trần Việt Trung chuẩn bị cho xuất bản. Trích đoạn diễn ra trên chuyến tàu biển vào Nam làm công nhân cao su Phú Riềng, chàng thanh niên công giáo Phạm Văn Phu (tên thật của Thiếu tướng Trần Tử Bình) đã bắt đầu bộc lộ những phẩm chất ưu tú của một nhà lãnh đạo cách mạng.Tầu Đô-ri-e hú lên những hồi còi dài báo hiệu bắt đầu rời cảng. Bến Hải Phòng được người Pháp cho xây làm nơi đổ bộ lính thủy và tiếp tế vào năm 1874, sau này người ta mới gọi là cảng khi công việc khai thác thuộc địa phát triển rộng dần. Dân tứ xứ đổ về đây làm phu phen, bốc xếp, thợ thuyền cũng đông lên.

Món “hàng người” lên tầu cũng được “phân lô” theo tỉnh giống như hàng hóa, mỗi “lô” được cấp chiếu trải lên sàn để ngồi nằm, điểm khác biệt là “hàng hóa” này biết đi lại và ăn uống!

Lùi lũi đi trên dòng sông Cấm, hơn một giờ sau con tầu đã ra tới cửa biển. Anh em phu tràn hết lên boong, hầu hết đây cũng là lần đầu tiên họ mới nhìn thấy cái mênh mông xa vời của biển xanh trong ánh nắng chiều sắp tắt.

Toàn bộ hải đoàn của con tầu đều là những thủy thủ người Pháp, Cáp-ten  là một tay thiếu tá hiến binh, còn lại là các sỹ quan phân theo cấp bậc và nhiệm vụ trên tầu. Ngay bữa cơm đầu tiên trên biển, theo lệnh của thuyền trưởng, bếp tầu đã nấu một bữa ăn “bóp mồm, bóp miệng”,  ai ăn cũng chỉ được một góc ruột chẳng khác gì ở Hạ Lý-Hải Phòng.

Anh em các tỉnh lại tìm đến anh Phu để bộc lộ thái độ uất ức và chờ ý kiến. Anh Phu nói:

- Lúc này ta đang ở trên biển khác với đất liền là có bọn cẩm. Khi đó ta gây náo loạn là bọn cẩm phải đến ngay, còn ở đây nếu chúng ta gây xung đột thì có thể bất ổn, chúng sẽ vu ta nổi loạn cướp tầu nên có thể nổ súng.

Anh em nghe ra đều yên lặng. Anh Phu hỏi tiếp:

- Ở đây có ai nói được tiếng Tây tàm tạm?

Gần chục anh em các tỉnh đã đỗ xéc-ti-phi-ca(2) cùng lại gần và nhận là có thể nói đơn giản được. Thế là ổn.

- Chúng ta sẽ lại đấu tranh. - Anh Phu trao đổi - tôi sẽ thay mặt anh em yêu cầu Cáp-ten phải cho ăn tử tế. Nếu tôi gặp chuyện thì các anh em biết tiếng Tây có thể thay tôi gây áp lực. Chúng ta phải đồng lòng. Đã đấu tranh thì phải đi tới cùng, khi nào đạt yêu cầu mới thôi. Anh em quyết chí không?

Nhìn người đại biểu của mình giảng giải, mọi người đều thấy yên tâm và cảm phục. Tất cả đều gật đầu trong ánh mắt quyết tâm.

Đến bữa trưa hôm sau, tất cả số phu trên tầu đều bãi thực. Một số ít những người là hào lý mất chức hay thua bạc mà phải đăng tên mộ phu lúc đầu còn lừng khừng, nhưng chứng kiến thấy đấu tranh thắng lợi, lúc này cũng hòa vào cùng mọi người. Tay Cáp-ten lừng lững đi vào khoang tầu nhìn đám phu Việt tốp đứng, tốp ngồi, tốp nằm mà không chịu ăn.

Hơn một năm dùi mài kinh sử trong Hoàng Nguyên, vốn tiếng Tây của anh Phu là khá nhất trong đám người cùng cảnh ngộ này.

Anh đứng ra đại diện cho anh em nói với tay Cáp-ten(1):

- Theo thỏa thuận ký trong công-tơ-ra, mỗi ngày trên tầu chúng tôi được ăn bảy hào, bữa ăn có thịt, cơm ăn no, có nước chè nóng uống. Nhưng bếp tầu đã không làm theo, tất cả đều bị bớt xén. Yêu cầu ông làm đúng theo công-tơ-ra.

Tên thuyền trưởng giận tím mặt vì xấu hổ. Hắn nói át đi:

- Bọn mày mới đi tầu, cho ăn no bị say sóng mửa hết ra tầu. 

Anh Phu cười to đáp lại:

- Thưa ông, ăn no là quyền của chúng tôi chứ, tiêu chuẩn chúng tôi phải được hưởng. Mửa hay không là tùy mỗi người. Từ hôm qua đến giờ có ai say sóng đâu.

Bị đuối lý, tay Cáp-ten nổi khùng, lộ mặt tráo trở, sai quân bắt anh Phu nhốt vào cầu tiêu và yêu cầu mọi người ăn cơm, nếu không chịu ăn sẽ dọn ngay. Hắn thừa biết một đàn chim đang bay chỉ cần bắn chết con đầu đàn là cả đàn mất phương hướng. Điều anh Phu lường trước đã xảy ra.

Trong lúc khó khăn cần phải giữ vững tinh thần. Toàn thể anh em đã dứt khoát không động đến bữa trưa, tay Cáp-ten và lũ thuộc hạ càng dọa dẫm mọi người càng lỳ lợm và đòi phải thả anh Phu ra. Lôi anh Phu vào phòng riêng, tay Cáp-ten dọa nạt phủ đầu:

- Ở đây chỉ có biển mênh mông, mày mà cứng đầu tao sẽ quẳng xuống biển làm mồi cho cá.

- Chúng tao là dân bần cùng mới phải đi phu, đằng nào cũng sẽ chết ở rừng thiêng nước độc, không chết trước thì chết sau. Đừng có đem cái chết ra nói chuyện.- Anh Phu cười nhạt.

- Tao sẽ đưa mày ra tòa Sài Gòn về tội lôi kéo nổi loạn cướp tầu. - thằng sỹ quan viễn chinh vẫn dọa dẫm đầy kinh nghiệm.

- Ha, ha… - anh Phu cười to - có ai tin được những kẻ thất học nghèo khổ lại cướp tầu không? Cướp để làm gì? Cướp xong thì đi đâu? Nhưng nếu nói lũ người nghèo đói này bị các quân nhân Pháp quốc ăn chặn miếng ăn, miếng ăn của kẻ cùng khổ thì ai cũng tin! Các ông không xấu hổ à?

Nhìn người thanh niên ngồi trước mặt đối đáp, gã thuyền trưởng lắc đầu. Nó không ngờ trong đám dân ngu lại gặp phải một người ứng đối chặt chẽ thế này. Nó đâu biết rằng người thanh niên này đã qua trường Dòng, được giáo dục và thừa hưởng một phương pháp đào tạo riêng biệt về tư duy, tâm lý và phát ngôn!

Đến chiều, trước thái độ đồng tâm kiên quyết của tập thể phu trên tầu và sự vững vàng của cá nhân người đứng đầu, tay Cáp-ten đã nhượng bộ. Bữa cơm no có thức ăn đầy đủ cả thịt bò được chuyển lên, anh Phu được thả ra. Một thắng lợi nữa trên hành trình đi phu. Anh Phu trở thành người đại diện thực thụ.

*

Ngoài mấy viên sỹ quan và đám dân phu đang được chuyển vào miền Nam, trên tầu Đô-ri-e còn một thành phần khác, đó là những người thủy thủ. Họ cũng là dân nghèo Pháp được tuyển rồi xuống tầu theo nghề hải hồ để kiếm đồng lương nuôi gia đình. Mỗi lần ra đi biền biệt, vài tháng, một năm mới trở về quê hương.

Những giờ tranh đấu đầu tiên giữa dân phu Việt với tay Cáp-ten và tay chân đã thu hút sự chú ý của các thủy thủ Pháp. Họ tỏ ra cởi mở, ủng hộ sự đối đầu bằng những động tác nháy mắt mỉm cười và hất đầu.

Ngay khi chủ tầu phải nhượng bộ, đám thủy thủ này càng tỏ ra thân thiện hơn. Họ mời anh Phu vào phòng bỏ bánh mỳ, pho mát, rượu, thuốc lá lên bàn rồi cùng nói chuyện.

Ban đầu anh Phu còn giữ ý. Bao nhiêu năm qua Bắc Kỳ chỉ là đất bảo hộ, người Pháp không có nhiều. Ngoài các quan cai trị mà chẳng bao giờ thấy mặt, số còn lại là lực lượng lính hiến binh đóng trong đồn trại, ra đường là lăm lăm khẩu súng, ánh mắt soi mói đe dọa. Sau này xuất hiện thêm tầng lớp thương nhân đến Đông Dương kiếm cơ hội làm ăn khai thác. Họ không gần gũi người An-nam. Cũng may cố Quý ở Hoàng Nguyên là người ngoại quốc anh Phu theo học, nên khi tiếp xúc với cánh thủy thủ anh Phu đỡ bỡ ngỡ hơn. Anh dè dặt cũng phải, trong con mắt người Việt chưa bao giờ người Tây đối xử tốt cả.

Còn bây giờ, những người Tây trước mặt mình lại tỏ ra đáng mến. Họ cũng đơn giản, mộc mạc, thân tình. Khác hẳn những người Tây hách dịch xa lạ. Xét kỹ hơn họ còn cảm phục những người An-nam.

- Các bạn đấu tranh hay lắm. - Người thợ máy Pháp khen.

- Cảm ơn Ngài - Anh Phu đáp lại bằng tiếng Pháp với vốn từ vựng ít ỏi học trong trường.

- Đừng gọi chúng tôi là Ngài. Toàn là người lao động làm thuê cả thôi. - Một người thuyền viên đáp với nụ cười mộc mạc.

- Ăn đi, lấy sức mà đấu tranh - anh thợ máy Pháp cười đưa miếng bánh mỳ pho mát cho anh Phu - vào hầm mỏ đồn điền cuộc sống khắc nghiệt lắm. Tôi đi nhiều xứ thuộc địa của Pháp rồi, ở đồn điền khí hậu độc lắm dễ chết vì bệnh dịch, côn trùng, làm không khỏe là bị đánh mà chết.

Anh Phu lắng nghe. Những người Tây này lại rất đồng cảm và chia sẻ sự khổ ải của đám phu phen, họ cũng là người cần lao đi đó đây nhiều. 

Những lúc chiều buông trên đại dương thanh bình mênh mang, các thủy thủ Pháp lại ra ngồi trên boong, tựa vào lan can tầu cùng với người Việt hát lên các làn điệu dân ca bằng hai ngôn ngữ. Họ đều là những người xa nhà, xa quê nên có cùng tâm trạng.

Đây chính là tình ái hữu giai cấp mà trên con đường đấu tranh sau này anh hiểu thêm. Tình thương yêu giai cấp không bị giới hạn trong một dân tộc, rộng hơn đó là khái niệm quốc tế vô sản.  

_______________________

(1) Cáp-ten : Captain - thuyền trưởng
(2) Xéc-ti-phi-ca: Certificat tương đương hết cấp I

Trần Việt Trung

Tin cùng chuyên mục

Tin mới