Nguyễn Trọng Tạo, người đi giữa hai bờ thơ - nhạc

Chủ nhật, 13/01/2019 10:00:00 | Văn hóa
Ngay bên thềm năm mới, trong những ngày đông lạnh tê tái mưa phùn, vào mạng xã hội, đâu đâu cũng thấy mọi người tiếc thương anh, xót xa cho anh. Hàng trăm bài viết về anh, về thông tin anh qua đời đã có mặt trên khắp các báo trung ương và địa phương.

Suốt một đêm mùng 7 tháng 1, những câu thơ hay nhất của anh được độc giả nhắc nhớ và đăng trang trọng trên trang riêng của mỗi người... Cả cuộc đời làm nghệ thuật của Nguyễn Trọng Tạo đã có cống hiến ở nhiều mặt khác nhau, nhưng nổi trội hơn cả, làm nên tên tuổi anh, chắc chắn là thơ và nhạc.

Nguyễn Trọng Tạo, người đi giữa hai bờ thơ - nhạc

Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo.

Thơ thế sự

Nguyễn Trọng Tạo được công chúng biết đến trước hết với tư cách một nhà thơ. Năm 1969, anh đạt giải thưởng thơ của báo Nghệ An. Năm 1978, anh đạt giải thưởng thơ của các báo/tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội, Nhân Dân. Ba tập thơ đầu tiên của anh đều là những ấn phẩm in chung: Tình yêu sáng sớm (1974, cùng với Nguyễn Quốc Anh), Gương mặt tôi yêu (1980, cùng với Trần Nhương, Khuất Quang Thụy), Sóng nhà đêm biếc tôi yêu (1984, cùng Nguyễn Hoa, Nguyễn Thụy Kha). Từ năm 1988 cho đến cuối đời, gia tài thơ chủ yếu của anh gồm 8 tập thơ in riêng và 2 tập trường ca: Sóng thủy tinh (1988), Gửi người không quen (1989), Đồng dao cho người lớn (1994, 1999), Thư trên máy chữ và Tản mạn thời tôi sống (1995), Nương thân (1999), 101 bài thơ tình (2005), Thế giới không còn trăng (2006), Em đàn bà (2008), Con đường của những vì sao (trường ca, 2008), Biển mặn (trường ca, 2015) - đó là chưa tính hết các ấn phẩm theo dạng tuyển tập. Ngoài ra, anh còn có một tập thơ dành cho thiếu nhi (Bé học đánh vần), khoảng trên dưới 100 bài thơ lẻ chưa đưa vào tập nào và mấy chục bài thơ dịch. Nhìn lại chặng đường thơ của Nguyễn Trọng Tạo, có thể nhận ra hai mảng thơ chủ đạo nổi lên, đó là thơ thế sự và thơ tình yêu. 

Ở mảng thế sự, Nguyễn Trọng Tạo bộc lộ được một cái tôi thẳng thắn, gai góc, quyết liệt, dám nhìn thật nói thật, cho dù sự thật ấy không ít những xót xa. Anh nổi tiếng về thơ trước tiên có lẽ cũng ở mảng thế sự này với dấu mốc không thể không nhắc đến. Đó là bài thơ Tản mạn thời tôi sống được viết vào mùa hè năm 1981, chính bài này gắn với những biến cố lớn lao trong cuộc đời anh, khiến anh phải bỏ dở trường Viết văn Nguyễn Du, chuyển công tác về Nhà văn hóa Quân khu 4 và thậm chí đã định tự tử vào đêm 11 tháng 11 năm 1981 bằng hai khẩu súng ngắn tự bắn vào đầu.

Đọc lại những câu thơ anh viết cách đây gần 40 năm, thấy đắng xót về một thời của dân tộc, thấy trong đó có những điều mãi mãi không bao giờ là cũ: Gió thầm thào như chẳng thể nguôi yên/ Gạo thịt cửa hàng nhiều khi không đủ bán/ Con phe sục khắp ga tàu bến cảng/ Giá chợ đen ngoảnh mặt với đồng lương…Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi/  Câu trả lời thật không dễ dàng chi/ Khi đang đắm yêu nào tin được bao giờ/ Rồi một ngày người yêu ta đổi dạ/ Rồi một ngày thần tượng ta tan vỡ/ Bạn bè thân thọc súng ở bên sườn/ Sau cái bắt tay xòe một lưỡi dao găm/ Kẻ tình nguyện giữ nhà muốn chiếm nhà ta ở…Thế nhưng khép lại bài thơ vẫn là một cái gì tươi tắn, là hy vọng và niềm tin: Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa… 

Cảm hứng thế sự còn tuôn chảy tiếp trong nhiều bài thơ của anh sau này, trong đó có những nhìn nhận thay đổi hẳn về chất. Từ chỗ “Câu trả lời thật không dễ dàng chi”, nay chuyển sang “Có câu trả lời biến thành câu hỏi” (Đồng dao cho người lớn) với một loạt những trái ngang chưa khi nào dứt: Có anh hề đã nói với tôi/ - Đời thằng hề buồn lắm anh ơi/ Và tôi đã khóc/ Tin thì tin không tin thì thôi/ Nhưng tôi người cầm bút, than ôi/ Không thể không tin gì mà viết (Tin thì tin không tin thì thôi).

Nhưng điều quan trọng là, Nguyễn Trọng Tạo luôn đứng về phía nhân dân, dù trong những câu thơ anh viết từ thập niên 80 của thế kỷ trước hay những câu thơ viết trong những thập niên đầu của thiên niên kỷ mới: Có thể thay quan, không thay được Nhân Dân/ Thay tên nước, không thể thay tổ quốc/ Nhưng sự thật khó tin mà có thật/ Không thể thay quan dù quan đã thành sâu… Đòi lại những ông quan thanh liêm đã chết tự lâu rồi/ Đòi lại ánh mặt trời cho tái sinh vạn vật/ Tôi tỉnh dậy thấy mặt tràn nước mắt/ Nước mắt của Nhân Dân mặn chát rót vào tôi (Nhân Dân, 2012).

Nguyễn Trọng Tạo, người đi giữa hai bờ thơ - nhạc

Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo trong đêm nhạc Nguyễn Trọng Tạo Khúc hát sông quê, năm 2018.

Thơ tình

Nói đến Nguyễn Trọng Tạo không thể không nhắc tới thơ tình. Nguyễn Trọng Tạo không chỉ là một người đào hoa mà còn nếm đủ bi kịch của những tan vỡ. Hình như những người đã từng đi qua một lần gãy đổ của hôn nhân thì thơ tình cũng  đằm sâu hơn, xa xót hơn: Chia cho em một đời tôi/ Một cay đắng một niềm vui một buồn/ Tôi còn cái xác không hồn/ Cái chai không rượu tôi còn vỏ chai (Chia). 

Có rất nhiều cuộc chia ly của tình yêu trong thơ Nguyễn Trọng Tạo. Có những chia ly vì tuổi trẻ nông nổi, có những chia ly như là duyên kiếp, định mệnh: Anh trót để ngôi sao bay khỏi cát/ Biếc xanh em mãi chớp sáng vòm trời/ Điều có thể đã hóa thành không thể/ Biển bạc đầu nông nổi tuổi hai mươi (Quy Nhơn không đề); Em cỏ khát. Ta mưa rào đầu hạ/ Cỏ uống mưa run rẩy cỏ đang thì/ Mưa rào đến rồi đi cỏ xanh niềm ngơ ngác/ Ta biệt em lớ ngớ chẳng hẹn gì (Cỏ và mưa). Sẽ có người trách rằng thi sĩ vô tâm, hay nặng hơn nữa là phũ phàng. Kẻ lãng du rong chơi như cơn mưa rào bất chợt đến rồi bất chợt xa chẳng hẹn ngày trở lại.

Thế nhưng khoảnh khắc hạnh phúc của tình yêu thì mãi là những điều có thật. Và nhiều khi cảm xúc của một ngày ấy có thể đủ nuôi nấng tâm hồn trong cả một đời. Duyên tự đến, duyên tự tan và rồi biết đâu duyên trở lại. Điều quan trọng là luôn sống thật và đắm say hết mình trong từng giây phút: Em mười chín tuổi nghìn năm trước/ Sao đến bây giờ mới hai mươi/ Môi mềm ngực nõn vòng tay xiết/ Anh là đá tảng cũng tan thôi/ Cứ tưởng một lần cho đỡ khát/ Nào ngờ bùa ngải lú trời xanh/ Nghìn sau gặp lại…  em hăm mốt/ Môi ngực vòng tay vẫn thiên thần (Thiên thần). 

Nguyễn Trọng Tạo có những bài thơ tình viết theo thể tự do đầy mới mẻ, hiện đại, mãnh liệt, bút pháp vượt qua cách thể hiện lãng mạn truyền thống để bước sang siêu thực: Anh nhớ em/ Mắt liếm màn hình/ Những dòng chat thơm mùi da thịt/Anh thấy mình bay là trên cỏ ướt/ Trên cánh tay trần em/ Đêm dồn đêm/ Ngày cũng là đêm/ Anh nhắm mắt một thiên đường mây trắng/ Ngày không em/ Ngọn cỏ khát đâm mù tia nắng (Ngày không em). Trong đoạn thơ vừa dẫn, ta bắt gặp những diễn đạt chuyển đổi cảm giác khá độc đáo: mắt liếm màn hình, dòng chat thơm... Nhưng phải đến câu cuối cùng thì cảm xúc mới đẩy lên đỉnh điểm như một vỡ òa đầy bất ngờ, một đột sáng dữ dội làm thi phẩm như bước hẳn sang một đẳng cấp khác: Ngọn cỏ khát đâm mù tia nắng.

Người viết nhạc và đem lời cho nhạc

Nguyễn Trọng Tạo viết nhạc không nhiều lắm, trước sau chỉ khoảng 20 bài. Nhưng trong hai chục bài đó có hai bài đáng gọi là tuyệt phẩm, sẽ còn mãi cùng năm tháng. Đó là Làng quan họ quê tôi (phổ thơ Nguyễn Phan Hách) và Khúc hát sông quê (phổ thơ Lê Huy Mậu). Điều thú vị là hai bài đều đậm âm hưởng dân gian nhưng lại được thể hiện bằng hai nhịp điệu hoàn toàn khác nhau. Làng quan họ quê tôi ra đời từ cuối những thập niên 70, đầu thập niêm 80 của thế kỷ trước, khi đất nước mới thống nhất chưa lâu, đời sống còn nhiều khó khăn. Có thể thấy, âm hưởng chất nhạc của thời chống Mỹ vẫn rất rõ nét trong ca khúc này. Trong ca từ, ta bắt gặp đủ những “bom rơi”, những “tiễn người ra trận” nhưng vẫn hiện lên thật rõ nét vẻ đẹp của một miền quê với sự yên bình đằm thắm, những câu quan họ ngọt ngào. Bài hát có nhịp điệu rộn ràng, sôi nổi, vui tươi, tràn đầy hào hứng của một thời kỳ dựng xây mới đã nhanh chóng đi vào đời sống nhân dân, được đón nhận nồng nhiệt và coi như một tác phẩm Tỉnh Ca của vùng quê Kinh Bắc.

Hơn hai mươi năm sau, Nguyễn Trọng Tạo một lần nữa lại chinh phục công chúng nghe nhạc với Khúc hát sông quê, lần đầu được trình diễn qua tiếng hát Anh Thơ. Nếu như nhịp điệu của Làng quan họ quê tôi khá nhanh thì Khúc hát sông quê lại chậm rãi êm đềm như một lời thủ thỉ tâm tình, giàu tự sự. Được giai điệu chắp cánh, những câu thơ của Lê Huy Mậu dường như có thêm hồn vía. Những ai xa quê không còn mẹ sẽ thấy lòng thổn thức trong những câu hát: Sông còn nhớ chăng nơi ta ngồi ngóng mẹ/ Vời vợi tuổi thơ một xu bánh đa vừng. Và rồi nước mắt có thể ứa ra lặng lẽ lúc nào không hay… Người ta kể rằng, đi khắp các nước châu Âu như Anh, Pháp, Đức, Ba Lan, Nga rồi sang Úc, sang Mỹ… ở đâu cũng thấy vang lên bài Khúc hát sông quê. Có phải quê hương ai cũng có một dòng sông nên bài hát ấy đã thực sự lay động trái tim của cả triệu người? 

Ngoài viết nhạc, Nguyễn Trọng Tạo còn đem lời cho nhạc. Có ít nhất hai bài hát mà anh là tác giả phần lời được công chúng biết đến rộng rãi. Đó là các bài Chia cho em một đời tôi (Phú Quang phổ nhạc) và Cỏ và mưa (Giáng Son phổ nhạc). Nếu như hai ca khúc do Nguyễn Trọng Tạo viết nhạc đều thuộc chủ đề quê hương thì hai bài anh đóng góp phần lời lại đều là những nhạc phẩm về tình yêu đôi lứa.

Nguyễn Trọng Tạo giờ đã rong chơi ở một cõi khác. Sinh thời, anh như một lãng tử lang thang đi giữa hai bờ thơ nhạc và tặng lại những quả ngọt cho đời, mãi mãi để lại tên tuổi của mình trong lòng nhân dân. Xin rót một ly rượu tiễn anh đi trong những ngày Hà Nội đang đổ những giọt mưa mùa đông tê tái. Tạ biệt người!    

Đỗ Anh Vũ

Tin cùng chuyên mục

Tin mới