Tìm hướng đi cho hệ thống bảo tàng

Thứ sáu, 18/05/2018 08:00:00 | Văn hóa
Việt Nam hiện có hơn 120 bảo tàng các loại, với khoảng 3 triệu hiện vật, tư liệu, trong đó nhiều hiện vật, bộ sưu tập có giá trị, quý hiếm... Tuy nhiên, dù nhiều bảo tàng được đầu tư lớn, song chưa thật sự phát triển…

Tìm hướng đi cho hệ thống bảo tàng

Khách đến tham quan tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Ảnh: Quang Vinh.

Công trình tiền tỷ “đắp chiếu”

Mới đây, theo số liệu thống kê của Bảo tàng Hà Nội, tổng lượng khách trung bình hàng năm đến tham quan ước tính khoảng từ 100.000 đến 110.000 lượt.

Không chỉ Bảo tàng Hà Nội, một công trình “biết tên mà chưa biết mặt” là Bảo tàng Văn học nhiều năm qua thực tế còn “u ám” hơn rất nhiều. Kỳ vọng là “địa chỉ đỏ” giúp công chúng yêu văn học có thể đến tìm hiểu, có thêm kiến thức về cuộc đời, sự nghiệp các tác giả, tác phẩm xuất chúng qua các thời kỳ ở nước ta nhưng số lượng khách đến tham quan chỉ đếm trên đầu ngón tay mỗi ngày. Dù được xây dựng với số tiền hơn 70 tỷ đồng, tuy nhiên Bảo tàng Văn học chỉ được biết đến nhiều là nơi tụ họp, tổng kết, hội thảo của Hội Nhà văn Việt Nam… 
Nhiều bảo tàng có lịch sử hàng chục năm tuổi cũng chẳng sáng sủa hơn.

Đơn cử như Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam sở hữu rất nhiều điều kiện thuận lợi như: sở hữu một tòa nhà kiến trúc châu Âu đẹp và độc đáo, nằm ở trung tâm của thủ đô, gần các khu du lịch nổi tiếng như: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Văn Miếu - Quốc Tử Giám… rất hấp dẫn và thuận lợi để tham quan. Tuy nhiên, dù sở hữu một “kho báu” các tác phẩm mỹ thuật vô giá, độc nhất vô nhị và nhiều điểm mạnh để thu hút khách, song Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi cảnh thưa thớt khách giống như nhiều bảo tàng trên địa bàn Hà Nội. Trong đó một con số phản ánh rõ nét nhất là mới đây trong khi “người hàng xóm” Văn Miếu thu hút đến 1,5 triệu lượt khách, thì Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam chỉ  đón được lượng khách “khiêm tốn” 54 ngàn lượt. 

Có thể thấy, đa số các bảo tàng hiện nay mới chỉ làm nhiệm vụ lưu giữ, bảo tồn giá trị văn hóa, lịch sử, phục vụ công tác nghiên cứu chứ chưa thực sự trở thành nơi học tập, điểm đến hấp dẫn du khách. Theo ghi nhận thực tế tại Hà Nội, lượng lớn khách đến thăm chỉ tập trung ở một số bảo tàng lớn như Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Phụ nữ… Còn lại rất nhiều bảo tàng chỉ đón vài chục lượt khách, thậm chí có bảo tàng cấp tỉnh vài tháng không có khách đến tham quan. 

Đi tìm lời giải

PGS.TS Nguyễn Văn Huy - Giám đốc Trung tâm Di sản các nhà văn hóa cho biết: Bảo tàng ngành không phải phòng truyền thống, không phải nơi trưng bày thành tích, biểu dương cá nhân, mà là nơi kể câu chuyện lịch sử của ngành với những con người, sự kiện làm nên chuỗi lịch sử ấy. Các bảo tàng ngành cần thay đổi lối tư duy cũ để tích cực học hỏi, sáng tạo, đầu tư thích đáng cả về chất xám và cơ sở vật chất, đưa ra những nội dung trưng bày chất lượng, gợi cảm xúc, kích thích sự tò mò, tìm hiểu ở người xem. Có như vậy mới mong kéo chân du khách đến với bảo tàng.

PGS.TS Nguyễn Văn Huy nói: “Có một câu hỏi lớn đặt ra, xã hội của chúng ta đã có những thay đổi ghê gớm, như trong lĩnh vực ngân hàng, bưu chính viễn thông, công nghệ kỹ thuật, nhưng tại sao lĩnh vực bảo tàng lại thay đổi chậm chạp như vậy? Có một thực tế là, ở ta đa phần xã hội quay lưng với bảo tàng, quay lưng vào các trưng bày bảo tàng. Nguyên nhân là công chúng không tin bảo tàng, họ không thấy sự sống động, hấp dẫn ở các trưng bày mà lại thấy trưng bày thì buồn tẻ, khô cứng, nội dung ít giá trị. Các trưng bày đa phần không có hiệu quả đối với xã hội. Thậm chí người ta cho rằng làm bảo tàng còn gây ra sự tốn phí cho xã hội. Tình trạng xã hội quay lưng với bảo tàng cũng chính bắt nguồn từ trưng bày, mà trưng bày là hồn cốt của bảo tàng nhưng lại không có hiệu quả, tức hồn cốt quá yếu đuối”.

Theo nhà sử học Dương Trung Quốc: Bảo tàng ngoài yếu tố hiện vật là cốt lõi thì cần quan tâm đến tính sáng tạo trong trình bày sao cho hấp dẫn. Lâu nay chúng ta vốn chỉ quan tâm nhiều đến truyền thống mà đôi khi xem nhẹ các yếu tố văn hóa dân tộc, đời sống sinh hoạt, tôn giáo tín ngưỡng... thế nên làm cho các thủ pháp trưng bày tại bảo tàng khô khan kém hấp dẫn. Nguyên nhân là  trước giờ chúng ta vẫn thường thụ động trong cách bảo vệ hiện vật bảo tàng bằng các mệnh lệnh khô khan “cấm sờ hiện vật”, vô hình trung làm công chúng cảm thấy xa cách, vậy nên thay vào đó các bảo tàng hãy chú thích, hướng dẫn kỹ càng cho du khách các thông tin về hiện vật, trước khi du khách tham quan, nhân viên các bảo tàng có thể nhắc nhở du khách chú ý gìn giữ hiện vật.

Có thể thấy, nguyên nhân dẫn đến sự đìu hìu của các bảo tàng hiện nay đang ngổn ngang đầy vướng mắc không thể tháo dỡ. Thậm chí nguyên nhân chính ở ngay chính trong nội tại, cơ cấu tổ chức của các bảo tàng. TS Trần Đức Anh Sơn- nguyên Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế thẳng thắn chỉ ra đó là việc các trường đại học văn hóa thường mở các khóa học giám định cổ vật dành cho cán bộ ngành bảo tàng và những người công tác liên quan. Tuy nhiên, nhiều giảng viên khi “đứng lớp” còn thiếu kiến thức về cổ vật và về bảo tàng nói chung do họ ít va chạm thực tế. Vì thế những kiến thức họ truyền đạt “lổn nhổn” và sai lạc khá nhiều. Học viên học xong được cấp chứng chỉ, nhưng dường như chẳng biết gì thêm và không thể giám định được hiện vật nào. Kết quả là đồ thật thì nói là đồ giả, đồ giả thì cho là bảo vật...

Ngoài ra, ông Sơn cũng cho rằng ngành văn hóa đối xử không đúng mực đối với người làm công tác bảo tàng. Phụ cấp nghề nghiệp cho người làm công tác bảo tàng đứng hàng thứ 7 trên 8 bậc phụ cấp dành cho các đối tượng công tác trong ngành văn hóa. Vì thế những người công tác trong ngành bảo tàng bị thiệt thòi, không yên tâm công tác, không thực sự yêu nghề, say mê nghề nghiệp.    

Hoàng Minh

Tin cùng chuyên mục

Tin mới